Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Kỹ thuật chiết cành Mai Vàng

Kỹ thuật chiết cành Mai Vàng


Khi chúng ta cần nhân giống 1 loại cây nào đó, hoặc thấy 1 đọan của 1 cây nào không có giá trị thẩm mỹ lắm, có thể lấy ra 1 đọan để làm 1 cây con, thì chúng ta có thể dùng phương pháp chiết cây


- Tại điểm muốn chiếc ta khoanh 1 vòng tròn quanh thân, sâu sát đến phần gỗ luôn,

- Sau đó xuống phía dưới khỏang 2 - 3cm ta khoang thêm 1 vòng giống như vòng trên, rồi rạch 1 đường từ vòng trên nối xuống vòng dưới, dùng luỡi dao tách phần vỏ giữa 2 vòng bỏ đi, dùng dao hoặc giẻ khô lau sạch chất nhờn trong phần gỗ vừa bóc. Có thể bó bầu đất ngay nhưng sau này người ta thuờng để vài ngày cho đến khi nào thấy mép của 2 vòng cắt bị sùi lên rồi mới bó bầu đất vô như vậy hiệu quả cao hơn.


- Bầu đất chuẩn bị bó có thể dùng đất xốp hoặc xơ dừa, hoặc rễ lục bình, hoặc “dến” loại dùng cho phong lan… miễn là lạo dễ thấm nước nếu tốt hơn có thể xịt thuốc kích thích ra rễ vào bầu đất cho mau ra rễ.

- Bọc quấn bao bầu đất dùng lại nylon, dây buộc thì dùng lọai nào có thể buộc chặt được.


- Dùng đất xốp(xơ dừa, rễ lục bình, dến…) quấn quanh phần gỗ đã cạo vỏ sau đó dùng bao nylon bó lại, cột chặt bằng dây ở 2 đầu. Phần trên bao nylon có thể cột lỏng để hứng nước, phần dưới dục 1 – 2 lỗ nhỏ để thóat nước.


- Không nên nóng vội mở bao bầu đất quá sớm, phải đợi thấy rễ mọc nhiều trong bầu đất và rễ phải đổi màu từ trắng sang tối rồi hẵng cắt nhánh chiếc ra.



- Khi cắt nhánh chiếc ra trước khi trồng vô chậu hoặc trồng xuống đất có thể tỉa bớt một số nhánh hay đọan thân thấy không cần thiết để cây tập trung nuôi các phần chính.



Kỹ thuật ghép cây Huỳnh hoa

Kỹ thuật ghép cây Huỳnh hoa

Cây Huỳnh hoa thường thấy có hai loại, một loại lá lớn hoa lớn, màu vàng, một loại lá nhỏ, hoa nhỏ cũng màu vàng, loại này rất siêng hoa. Gần đây thấy xuất hiện thêm hai loại nữa: một loại lá lớn, hoa lớn, màu tím, loại này thường ít hoa và một loại lá nhỏ, hoa mày hường, loại này thường có nhiều hoa.


Do cả bốn loại này đều có cùng họ hàng với nhau nên chúng đều có thể ghép được với nhau trên cùng một gốc ghép. Muốn cây ghép có thế đẹp việc trước tiên bạn phải kiếm được một cây Huỳnh hoa làm gốc ghép tương đối lớn một chút (cỡ cổ tay trở lên) cây này thường được bà con trồng trước cổng trước sân hoặc ở bờ rào trước nhà.

- Khi đã có gốc ghép thì dùng cưa , dao cắt tỉa tạo thế cho cây theo ý muốn của mình rồi trồng vào trong chậu lớn có trộn sẵn phân mục, chăm sóc, tưới nước đầy đủ cho cây.

- Sau khi trồng khoảng một tháng thì cây đâm chồi mạnh, chọn những chồi ưng ý ở đúng vị trí muốn ghép loại hoa thì cây đâm chồi mạnh, chọn những chồi ưng ý ở đúng vị trí muốn ghép loại hoa khác vào (để cho dễ hiểu tạm gọi mỗi chồi này là một “gốc ghép”). Khi “gốc ghép” có độ lớn cỡ đầu cây đũa ăn cơm là có thế ghép được.

- Trên “gốc ghép” cắt bỏ một đoạn ngọn dài khoảng 5 - 7cm, rồi dùng lưỡi dao lam chẻ đôi “gốc ghép” một đoạn dài khoảng 1,5 - 2cm để tạo miệng ghép.

- Trên cây cần lấy giống chọn những tược có độ lớn tương đương với “gốc ghép”, cắt lấy một đoạn dài 5 - 7 cm (có khoảng 2 - 3 mắt lá), mỗi lá cắt khoảng 2/3 đến 1/2 lá, để cành ghép đỡ bị mất nước sau khi ghép (phần này gọi là “cành ghép”)

- Tại phần gốc của “cành ghép” dùng lưỡi dao lam cắt vạt hai bên tạo thành một hình nêm (vết cắt vạt cũng dài khoảng 1,5 - 2cm), nhanh chóng đưa phần vạt nêm vào miệng ghép rồi dùng dây nilông quấn vừa đủ chặt, sau cùng dùng một bao nilon loại trong suốt chùm kín lên “cành ghép” và chỗ ghép để “cành ghép” không bị khô, che nắng cho chỗ ghép hoặc đưa cây ghéo vào chỗ mát

- Sau khi ghép khoảng 15 đến 20 ngày nếu thấy “cành ghép” còn sống thì thào bỏ bao nilông và sau đó cũng khoảng 15 - 20 ngày thì tháo bỏ dây nilon quấn chỗ ghép.

- Sau khi ghép một thời gian tại chỗ nách lá của “cành ghép” sẽ nẩy tược mới, khi lớn những tược mới này sẽ ra hoa. Muốn cho cây có thế đẹp nên sửa tạo tán cho cây giống như việc tạo tán cho những cây kiểng khác.

Kỹ thuật tạo tán cho cây cảnh

Kỹ thuật tạo tán cho cây cảnh

Trong tạo dựng nghệ thuật tạo cho cây cảnh có nhiều tán để trưng bày, thưởng ngoạn là cách làm lâu đời của người Việt và truyền lại cho ngày hôm nay. Loại hình cây cảnh cổ của nước ta và loại hình cây Bon sai của thế giới đã được cải biến không ngừng nhằm nâng cao giá trị cây cảnh nghệ thuật. Nếu như cây cảnh cổ lâu đời thường chỉ đơn điệu một kiểu hình thể bông tán thì ngày nay có rất nhiều kiểu khác nhau.


Có rất nhiều cách tạo tán cây cảnh mà mỗi nghệ nhân làm theo ý tưởng riêng mình, tuy vậy kiểu nào cũng đáng trân trọng và tùy theo nơi cần trưng bày, tùy theo ý thích của người chơi mà chọn hình thể phù hợp cho dù quy vào các kiểu tán trên. Và chắc chắn rằng, mỗi vùng miền, mỗi nghệ nhân sẽ còn tiếp tục sáng tạo nên các hình tán trong nghệ thuật cây cảnh, nhằm phát huy không ngừng thú chơi sinh vật cảnh của mọi người.

1. Tạo tán cổ
Từ một cành chính tạo nhiều nhánh được co kéo và ép thành một tầng nằm ngang. Mặt bông tán thường là hình tròn, phía dưới bằng phẳng, phía trên tạo nhánh dăm cho phát triển lá để có hình mâm xôi; tất cả các bông tán đều phải nằm ngang đồng thời song song với nhau cũng như song song với mặt đất. Chú ý là không được nghiêng ngã; đường kính các tán phù hợp với cỡ cây, tán cách nhau đều không loãng và túm tụm, tán trên cùng phải tròn đều không nhọn như chọc lên trời sẽ làm cho cây phân tán trở nên thô vụng và sai kỹ thuật của cây có tán cổ. Hình thể cây có tán cổ ở mỗi vùng mỗi khác, phía Bắc đa số các cây tán cổ cành nhánh gần như áp sát còn phía Nam thì thoáng hơn có vẻ như phản ánh về đất đai và lối sống thoáng đãng. Tuy nhiên về hình thể kiểu tạo tán cổ đều cho nội dung về sự nề nếp, nét trang nghiêm thích hợp với đình chùa, công sở…Cây tạo tán cổ thường là các loại cây có mủ như Sanh, Si, Gừa, Sộp, Bồ đề và những cây cho hoa như Bông Giấy, Mai Chiếu thủy, Tùng…

2. Tạo tán cách tân
- Kiểu tán thưa thoáng: Cành và ngọn giống tán cây cổ nhưng không cần nhánh dày mà cắt tỉa cho thưa thoáng tạo cho cành, nhánh, lá phô ra nét đẹp.

- Kiểu hình tròn: Cành và nhánh uốn lượn uyển chuyển, tầng tán hình tròn bè rộng, lá nhỏ và ít tạo nên chi tiết mềm mại dưới mắt người thưởng ngoạn. Cách này thường dùng phương pháp quấn dây thép để uốn cành như hình dấu ngã trong thời gian dài rồi tháo dây, nẹp cành.

- Kiểu tán đa dạng: Dạng cây tán này thường phá cách, không cần phải một cành nhánh hình tròn hay phân đều theo từng tầng một với tán lẻ từ 3, 5, 7 tán tròn theo tên gọi (Ông bà, Cha mẹ, Con cái- Sinh; Lão; Bệnh; Tử; Sinh…). Loại tán đa dạng chơi cành là chủ yếu, có cành tạo nhánh vươn dài, nhánh buông, nhánh vươn ngắn và không đỉnh ngọn. Loại cây tạo tán thường là Sam, Trắc, Mai, Liễu…Nét cấu tạo tán loại này cần sự tự do, ít dùng dây thép buộc hay nẹp sắt. đường nét tán đa dạng có vẻ đẹp tự do, mang tính nghệ thuật hội họa phù hợp vườn cảnh tư gia, quán cà phê vườn.

Kinh nghiệm thành công nuôi cá Tra thịt trắng

Kinh nghiệm thành công nuôi cá Tra thịt trắng

1. Tiềm năng nuôi cá tra
- Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là đối tượng nuôi thuỷ sản nước ngọt được nuôi chủ lực của các tỉnh Ðồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL). Ðây là loài cá có tính thích nghi rộng, chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Nó có thể nuôi trong môi trường nước chảy (lồng, bè, đăng, quầng ) với mật độ rất cao : 100 - 150 con/m3 nước; đồng thời có thể sống trong môi trường nước tĩnh (ao, hầm, mương vườn, ruộng lúa,), năng suất nuôi có thể đạt tới 300 tấn/ha.

- Ðồng Tháp có diện tích mặt nước có thể đạt trên 2.000 bè nuôi cá (ba sa, tra) và đất bãi bồi 1.412 ha được phân bố ở 9 huyện, thị dọc theo sông Tiền và sông Hậu. Với tiềm năng nuôi như trên, hiện nay Ðồng Tháp mới triển khai nuôi 200 bè và 300 ha diện tích đất bãi bồi thì sản lượng cá thương phẩm khoảng 72.000 tấn.

- Phần lớn đất đai của tỉnh Ðồng Tháp nằm giữa 2 con sông Tiền và sông Hậu với nhiều bãi bồi, ao hầm, có nguồn nước ngọt dồi dào và được nước lũ bồi bổ, nuôi dưỡng, làm sạch môi trường nên hoàn toàn có thể tin tưởng Ðồng Tháp là tỉnh có tiềm năng lớn trong việc phát triển nuôi cá tra có chất lượng phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

- Tuy nhiên, việc phát huy tiềm năng đó không chỉ nằm ở nuôi trồng, sản xuất mà phần quyết định chính là ở khâu thị trường tiêu thụ và năng lực chế biến xuất khẩu.

- Những năm qua, nghề nuôi cá tra có những bước thăng trầm, giá cả không ổn định, việc lời lỗ không quyết định ở năng suất mà quyết định do giá cả, thị trường. Rồi vụ kiện bán phá giá cá tra, cá ba sa, các đòi hỏi về kỹ thuật, về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày một khắt khe hơn. Ðặc biệt các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU đòi hỏi rất nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm. Do đó sản phẩm cá tra thịt trắng có nhu cầu ngày càng cao và là vấn đề bức xúc đối với các nhà doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản và người nuôi.


2. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến màu thịt cá tra
- Từ thực tiễn sản xuất cho thấy, có thể phân loại màu thịt cá tra từ cao đến thấp như sau: trắng, vàng chanh, hồng, vàng.

- Theo nhận định của một số nhà khoa học màu thịt cá có thể quyết định bởi 3 yếu tố : di chuyển; chế độ dinh dưỡng (thức ăn); điều kiện sống (môi trường, thời tiết). Trong đó, thành phần các loại thức ăn của cá có tác động rất lớn đến màu thịt của cá tra nuôi. Dù nuôi cá bất cứ ở hình thức nào (bè, ao), bất cứ môi trường nào (nước chảy, nước tĩnh) nếu sử dụng những loại thức ăn xanh (rau muống), chất kết dính (bột gòn) thì chắc chắn thịt cá sẽ có màu vàng.
Một số hộ nuôi cá bè khác còn cho biết các loại thức ăn như bắp, bí đỏ, cua đồng, cũng là nguyên nhân làm cho thịt cá tra không được trắng (vàng chanh, hồng).

- Cùng một thành phần thức ăn (rau muống, cám tấm nấu, cá tạp xay nhuyễn) nếu được ủ lên men bằng hèm rượu sau 24h mới cho cá ăn thì thịt cá sẽ trắng đẹp do quá trình ủ lên men đã phân huỷ một số thành phần diệp lục tố trong rau muống. Còn ngược lại, nếu cho cá ăn trực tiếp không qua ủ lên men thì thịt cá sẽ có màu vàng. Trong năm 2.000, cá thịt trắng bán cho các nhà máy chế biến xuất khẩu thuỷ sản với giá 14.000 đ/kg trong khi cá thịt vàng bán tiêu thụ nội địa chỉ được 10.000 đ/kg. Qua đó cho thấy cá tra thịt trắng là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế trong việc nuôi cá tra thương phẩm. Hộ anh Nguyễn Văn Hà ở xã Mỹ An Hưng A - huyện Lấp Vò - Ðồng Tháp thả nuôi 120.000 con cá tra trên diện tích 2.000 m2, thu hoạch được trên 100 tấn cá thương phẩm có chất lượng thịt trắng (Ðây là vụ nuôi thứ ba liên tiếp anh thu hoạch từ 100 - 120 tấn cá trong 01 vụ). Với thành phần thức ăn 45% cám chuối, 45% cá biển xay, 15% bả hèm rượu, phối thêm một ít vitamin, premix. Ngày trung bình thay nước 5 giờ (khoảng 15% nước ao). Tảo trong ao vẫn phát triển rất mạnh, độ trong thấp (<15cm). Qua kinh nghiệm của anh Hà và một số hộ nuôi khác, có thể sơ bộ kết luận : Bả hèm rượu với một lượng vừa phải từ 10 - 15% được bổ sung liên tục vào thành phần thức ăn nuôi cá tra sẽ giúp cá có sức đề kháng tốt, ít bệnh và quan trọng hơn hết là thịt cá có màu trắng (tỉ lệ cao) và một tỉ lệ thấp vàng chanh, hồng.

- Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, thời tiết
+ Cá nuôi ao nước tĩnh ít thay nước, hệ số thức ăn thấp, tỉ lệ sống cao, cá ít bệnh, thịt cá có màu vàng.
+ Cá nuôi ao bãi bồi có chế độ thay nước thường xuyên, hệ số thức ăn cao hơn, tỉ lệ sống thấp hơn, thịt cá màu trắng, vàng chanh đến hồng.
+ Cá nuôi bè, đăng quầng nước chảy, hệ số thức ăn cao hơn hết, tỉ lệ sống thấp nhất (chỉ đạt khoảng 70 - 75%), thịt cá trắng đẹp, tỉ lệ vàng chanh thấp. Mô hình này cá thường bị bệnh do phải phụ thuộc thường xuyên vào môi trường nước bên ngoài thay đổi.
+ Như vậy là nếu giữ được môi trường nước trong sạch, không để tảo phát triển, có chế độ thức ăn hợp lý (nên dùng thức ăn viên công nghiệp và định kỳ dùng các sản phẩm xử lý đáy ao để giảm thiểu vấn đề thích tụ chất thải và giảm ô nhiễm nguồn nước, đáy ao). Nếu làm tốt những yêu cầu trên thì chúng ta sẽ tạo ra được sản phẩm cá tra chất lượng cao, thịt cá trắng đẹp, bán có giá hơn.

- Ngoài ra, cũng cần chú ý vào thời điểm nước quay (đầu tháng 5 âl) là lúc nước có màu đỏ son khiến cá tra nuôi bè hoặc đăng quầng bị ảnh hưởng thịt cá bị đổi màu, nếu thu hoạch lúc này thì giá bán rất thấp.

- Ðặc biệt trong những ngày nắng nóng kéo dài, nhiệt độ nước sông trên 29 độ C và nhiệt độ nước ao nuôi trên 38 độ C cũng có thể làm cho màu thịt cá tra kém chất lượng.

- Rút được kinh nghiệm trên, trong thời gian qua ngư dân Ðồng Tháp đã thực hiện các biện pháp nuôi như sau :
+ Về mô hình nuôi : chuyển đổi từ nuôi trong ao sang nuôi đăng quầng và nuôi trong ao ven sông để chủ động thay nước.
+ Về thức ăn : Chuyển từ sử dụng thức ăn tự chế biến sang sử dụng thức ăn công nghiệp.
+ Về con giống : Chuyển từ việc sử dụng con giống tự nhiên sang con giống sinh sản nhân tạo.

Hướng dẫn khắc uốn thân cây cảnh

Hướng dẫn khắc uốn thân cây cảnh


- Không thể nào uốn được những cây già đào được ở nơi hoang dã. Chúng cần được khắc, tô điểm nếu chúng thiếu vẻ đẹp. Khi cây già được đem trồng trong mâm, sự tăng trưởng của chúng bị dừng lại, mọi vết thương đều khó lành sau khi bị cắt cành.


- Nếu được khắc, chúng sẽ mang dáng dấp dãi nắng dầm mưa của cây sống lâu năm nơi hoang dã. Để tạo bề ngoài già nua cho cây non, ta khắc phía trước của thân nhưng tuyệt đối không được khắc một đường vòng quanh lớp vỏ của thân.


- Vì như thế, ta đã cắt đứt những ống dẫn nhựa và ống bọc trong vỏ cây. Sau khi khắc, những cây non trông dày dạn, gian khổ, mang nét giản dị cổ kính, và sự quyến rũ mỹ thuật.

- Nếu một thân cây quá mảnh mai, không già cỗi, ta có thể đính một miếng gỗ già, gân guốc vào trước thân nó, để những cành và lá non sẽ trông như mọc từ một cây già cỗi.

- Nếu một thân cây cần được uốn cong, trước hết ta quấn nó bằng dây gai dầu, hoặc đặt một sợi dây gai dầu bên ngoài nơi ta định uốn trước khi nó cốt để nâng đỡ cây không gãy khi bị uốn. Nếu thân cây hơi lớn, ta sẽ rất khó uốn.

- Hãy dùng dao khắc đề mở một đường khe nơi ta định uốn, sâu khoảng hơn 2/3 ' vào trong thân gỗ rồi quấn thân cây bằng dây gai dầu. Vết cắt phải xiên theo chiều uốn nếu không thì vết thương sẽ toác ra khi bị uốn. Buộc chặt cây lại bằng dây điện sau khi uốn. Vết thương sẽ lành trong vòng hai tháng.

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Hướng dẫn nuôi tôm Thẻ thâm canh vùng cát

Hướng dẫn nuôi tôm Thẻ thâm canh vùng cát


I. Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng
1. Nguồn gốc
Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) có nguồn gốc từ biển Pê-ru đến Nam Mêhycô và được di giống đến nhiều nước: Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Inđônexia, Malaixia, Việt Nam…

2. Tập tính sống
- Có thể sống trong môi trường: Độ mặn: 5 - 50 ‰, thích hợp: 25 - 32 ‰, pH nước: 7,7 - 8,3, nhiệt độ thích hợp: 25 – 32 độ C

- Hình thái cấu tạo:Vỏ mỏng, màu trắng đục, bình thường màu xanh lam, chân bò màu trắng ngà.

3. Đặc điểm sinh trưởng – dinh dưỡng
- Lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g ( mật độ khoảng 80con/m2),

- Khi đã đạt được 20g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần.

- Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực.

- Không cần thức ăn có lượng protein cao như tôm Sú.

II. Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng cát
1. Điều kiện ao nuôi
- Nguồn nước cung cấp từ nguồn nước biển, không bị ô nhiễm.

- Đáy ao được trải tấm nhựa HDPE. Bờ ao được phủ tấm nhựa HDPE hoặc bằng những tấm xi-măng.


- Ao nên xây dựng cống xả ở phía cuối gió và hệ thống thoát nước phải được xây dựng bằng cống ngầm.

- Rào lưới quanh ao để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh bên ngoài như: cua, còng, rắn….

- Diện tích ao nuôi từ 0,3 – 0,5ha, mức nước đạt 1,4 – 1,6m .

- Phải có ao chứa lắng diện tích chiếm 15 -20 % tổng diện tích ao.

- Gần đường giao thông, có hệ thống điện để thuận lợi trong quá trình sản xuất.

2. Chuẩn bị ao nuôi
2.1. Cải tạo ao: Theo phương pháp cải tạo khô.
- Phơi khô đáy ao 3-4 ngày. Thu gom bùn đến nơi qui định, tránh xa vùng nuôi.

- Xịt rửa đáy sạch sẽ, tiến hành phơi đáy để diệt trùng đáy ao.

- Lấy nước vào ao qua lưới lọc, đạt mức 1,4 - 1,6m.

2.2. Xử lý nước
- Khử trùng nước: Có thể sử dụng một trong các loại sau: BKC, hợp chất của Iod, thuốc Tím...với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Trường hợp ao nuôi tôm bị bệnh ở vụ trước, nên khử trùng nước bằng Chlorine nồng độ 20 - 30 ppm.

2. 3. Bổ sung vi sinh có lợi và gây màu nước
- Sau 2-3 ngày, phải cấy vi sinh và gây màu với liều lượng cao hơn thông thường để tạo thức ăn tự nhiên cho tôm giống.

- Gây màu nước nên được thực hiện trong thời tiết nắng ấm. Thường sử dụng phân NPK (loại 20 – 20 - 0) với Urê theo tỷ lệ 1:1 với lượng 1 - 2 kg/1000m3 trong 2 - 3 ngày. Đối với ao gây màu khó cần bổ sung thêm hỗn hợp nấu chín với tỷ lệ bột cá: đậu nành: cám gạo là 4:1:1 với lượng 1 - 2 kg/1000m3.

- Thời gian gây màu khoảng 4 - 5 ngày, khi màu nước trong ao lên tốt thì mới tiến hành thả giống. Màu nước tốt là màu nâu hoặc màu xanh lá chuối non, độ trong từ 30 - 40 cm.

- Cần kiểm tra pH, độ kiềm...để điều khiển các yếu tố này nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi.

2.4. Các chỉ tiêu lý hoá nước ao nuôi cần đạt trước khi thả giống
Ôxy hoà tan trên 4 mg/l; pH 7,5 - 8,5; Nhiệt độ nước 28 – 30 độ C; Ðộ kiềm: 80-120 mg/l; NH3: < 0,1mg/l; H2S: < 0,03mg/l; Ðộ trong 30 – 40 cm; Ðộ mặn 5 – 35‰ thích hợp nhất 10 - 25‰. 3. Thả giống
3.1. Chọn tôm giống
a. Nguồn gốc:
- Tôm giống chân trắng PL12 phải được sản xuất từ tôm bố mẹ đảm bảo chất lượng theo Quy định.

- Nếu tôm chân trắng giống được nhập khẩu thì cỡ phải từ PL12 trở lệ, có xuất xứ rõ ràng và có chứng nhận kiểm dịch của cơ quan có thẩm quyền.

b. Chỉ tiêu cảm quan:
- Trạng thái hoạt động: tôm bơi thành đàn ngược dòng liên tục quanh thành bể ương hoặc chậu, có phản xạ tốt khi có tác động đột ngột của tiếng động mạnh hoặc ánh sáng.

- Ngoại hình: các phụ bộ hoàn chỉnh, các đốt bụng hình chữ nhật; đầu và thân cân đối, không có dị tật; chân đuôi mở rộng dạng chữ V khi bơi.

- Màu sắc: màu tự nhiên của loài.

- Chiều dài thân: chiều dài thân lớn hơn 9 mm, tôm đồng đều về kích cỡ, tỉ lệ chênh lệch đàn không lớn hơn 10%.

c. Mức độ nhiễm bệnh:
- Bệnh do vi khuẩn: không có mầm bệnh.

- Bệnh do nấm: không có mầm bệnh.

- Bệnh nguyên sinh động vật: dưới 10% số cá thể trong mẫu nhiễm.

- Bệnh virus: không có mầm bệnh virus (TSV, WSSV, YHV, IHHNV, BP,…).

3.2. Thả giống
- Thả tôm vào ao khi ao đã được gây màu nước tốt đủ thức ăn tự nhiên cho tôm. Trước khi thả tôm cần kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, độ mặn...giữa trại giống và ao nuôi. Nếu có sự khác biệt thì phải điều chỉnh thích hợp để tránh sốc cho đàn giống.

- Thả lúc sáng sớm hoặc chiều tối, nhiệt độ thấp trong ngày. Tránh thả tôm khi trời nắng nóng, nhiệt độ nước cao hoặc khi trời có mưa. Cần ngâm túi giống trong ao nuôi khoảng 10 -15 phút sau đó thả tôm vào ao nuôi.

- Mật độ thả từ 80 - 100 con/m2.

4. Chăm sóc quản lý
4.1. Quản lý thức ăn
- Thời gian đầu rất khó ổn định màu nước, nguồn thức ăn tự nhiên rất ít. Nên sau khi thả giống phải cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp, chia làm 4 - 5 lần/ngày. Bổ sung thêm khoáng, men, vitamin C, E, dầu mực là cần thiết.

- Cho ăn 0,6 - 0,8 kg thức ăn/10 vạn post/ ngày, sau đó 2 ngày tăng 1 lần với lượng tăng 0,2 - 0,3kg/10 vạn. Nếu thức ăn tự nhiên ít ( độ trong của nước cao), có thể tăng lên 10 - 20 %.

- Đến ngày thứ 30 nên có sàn thức ăn (nhá) và dùng các biện pháp kỹ thuật khác (định kỳ chài tôm để theo dõi quá trình tăng trưởng, trọng lượng trung bình, lượng thức ăn trong ruột; quan sát diễn biến màu nước...) và kinh nghiệm (ví dụ: diễn biến thời tiết; vỏ tôm lột, cát xuất hiện trong nhá, tôm nhảy lên khỏi mặt nước khi có tiếng động hoặc ánh ánh sáng vào ban đêm,…là dấu hiệu để nhận biết sức khỏe của tôm nuôi tốt) để kiểm tra tình hình sức khỏe và khả năng sử dụng thức ăn mà điều chỉnh theo từng lần cho ăn phù hợp. Nên tham khảo bảng sau:


4.2. Quản lý môi trường ao nuôi
- Thường xuyên theo dõi các diễn biến màu nước, biến động của các chỉ số môi trường, sức khỏe tôm nuôi mà có biện pháp xử lý kịp thời.

- Một số điểm cần lưu ý:
+ Định kỳ bổ sung men vi sinh để hạn chế ô nhiểm môi trường.
+ Nâng cao mực nước đạt tối đa để ổn định nhiệt độ.
+ Thức ăn tự nhiên ít nên màu nước ít ổn định trong thời gian đầu, cần theo dõi để xử lý kịp thời.
+ Khi lấy nước cần tham khảo thông tin quan trắc môi trường của Chi cục Nuôi trồng Thủy Sản Bình Định. Hạn chế lấy nước từ giếng đóng (nước ngầm), nên kiểm tra hàm lượng kim loại nặng như Cu, Zn, Fe,.. và các loại khí độc H2S, NH3, SO2.
+ Đặc điểm của loại tôm này là phát triển đồng đều và được thả với mật độ cao nên lột xác đồng loạt, dẫn đến độ kiềm dễ bị dao động cần thường xuyên bổ sung vôi nông nghiệp để ổn định độ kiềm.

5. Thu hoạch


Khi tôm đạt ích cỡ 70 - 100 con/ kg, nên tiến hành thu hoạch. Trước khi tiến hành thu hoạch cần theo dõi chu kỳ lột xác, hạn chế tình trạng tôm mềm vỏ vào thời điểm trên.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Tin về triển lãm Hội Chợ đồng bằng sông Cửu Long

Tin về triển lãm Hội Chợ đồng bằng sông Cửu Long

Triển lãm hội chợ nhằm khẳng định những thành tựu đạt được qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 – 2010.


1. Về mục đích, ý nghĩa của Triển lãm hội chợ
Triển lãm hội chợ nhằm khẳng định những thành tựu đạt được qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 – 2010. Đây là sự kiện có ý nghĩa to lớn và quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, nhằm huy động các nguồn lực giải quyết an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân trong vùng; thúc đẩy các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch; tạo điều kiện, cơ hội cho các tổ chức, doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, giới thiệu về tiềm năng, năng lực của mình.

2. Bộ máy thực hiện triển lãm hội chợ
Sau khi có chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã thành lập bộ máy Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức và các tiểu ban giúp việc cho Triển lãm - Hội chợ. Phân công đồng chí Nguyễn Phong Quang, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ làm Trưởng Ban Chỉ đạo và đồng chí Bùi Ngọc Sương, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ làm Trưởng Ban Tổ chức. Thành phần Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức gồm lãnh đạo các Bộ: Quốc phòng; Công an; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Công Thương; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Thông tin và Truyền thông; Tài chính; Kế hoạch và Đầu tư; Văn phòng Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Bí thư, Chủ tịch các tỉnh/thành Tây Nam Bộ là thành viên Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; lãnh đạo UBND các tỉnh/thành Tây Nam Bộ và TP. HCM; Bộ Tư lệnh Quân Khu 9, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số cơ quan, đơn vị có liên quan.

3. Các Tiểu ban giúp việc cho lễ hội
Ban Tổ chức đã thành lập 08 tiểu ban giúp việc gồm: Tiểu ban Lễ tân, Hậu cần; Tiểu ban Bảo đảm Cơ sở vật chất; Tiểu ban Bảo vệ; Tiểu ban Tuyên truyền; Tiểu ban Hội chợ, Triển lãm; Tiểu ban Lễ hội; Tiểu ban Tổ chức Hội thảo, Xúc tiến đầu tư và Tiểu ban tổ chức Diễu binh, Diễu hành.

4. Công tác vận động tài trợ, hỗ trợ
Đến nay, đã có 17 đơn vị đồng ý tài trợ kinh phí tổ chức, trong đó Tổng công ty Lương thực miền Nam là đơn vị tài trợ chính, còn lại 11 ngân hàng và 06 doanh nghiệp tham gia hỗ trợ.

5. Thực hiện huy động quỹ an sinh xã hội cho vùng
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và các địa phương, kinh phí thực hiện công tác AXSH tại vùng ĐBSCL trong 10 năm (2001 – 2010) là 28.860 tỷ đồng; thực hiện trong năm 2011 được 7.896 tỷ đồng và kế hoạch nhu cầu huy động năm 2012 là 7.275 tỷ đồng. Riêng ngành ngân hàng, trong 10 năm qua đã đóng góp cho Vùng trên 579 tỷ đồng; năm 2012 đăng ký thực hiện trên 164 tỷ đồng.

6. Các công tác khác
- Về đảm bảo cơ sở vật chất, hậu cần phục vụ cho lễ hội: Tập trung xây dựng cổng chào, hạng mục công trình san lấp mặt bằng khu vực vào hội chợ, các khu triển lãm, nơi dựng khán đài, sân khấu nước và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu. Tiến độ cơ bản được đảm bảo, dự kiến đến 20/3/2012 bàn giao hoàn chỉnh hạ tầng (mặt bằng, điện, nước…) cho Ban Tổ chức.

- Về công tác truyền thông của lễ hội: Theo kế hoạch, Ban Tổ chức đã họp báo tại Hà Nội (ngày 04/11/2011), TP. HCM (ngày 12/12/2011) và TP. Cần Thơ (ngày 08/3/2012) dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh. Từ tháng 01/2012, BTC đã phối hợp với các địa phương thực hiện việc tuyên truyền bằng pano, băng rol, phướn, màn hình led… tại TP. Cần Thơ (đã thực hiện trước Tết Nguyên Đán), tại các tỉnh, thành Tây Nam Bộ và thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM (giữa tháng 3/2012). Về công tác thông tin trên báo-đài, đã hợp đồng phối hợp với các đài truyền hình như: Trung tâm truyền hình VN tại Cần Thơ, Đài PTTH Cần Thơ, Đài PTTH Hậu Giang, Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan thường trú tại ĐBSCL), Cổng thông tin điện tử Chính phủ; các Báo: Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Cần Thơ, Diễn đàn Doanh nghiệp, Đầu tư, Tiền Phong, Đại Đoàn Kết, Nông nghiệp, Doanh nhân, Tạp chí Đầu tư nước ngoài, Tập chí Công nghiệp thực hiện các chuyên mục tuyên truyền cụ thể hướng đến Triển lãm hội chợ (một số đài như Trung tâm Truyền hình VN tại Cần Thơ, Đài PTTH Hậu Giang đã xây dựng chuyên mục phát sóng hàng tuần giới thiệu về những thành tựu của vùng, sản xuất phim tư liệu về thành tựu Tây Nam Bộ, thông tin về công tác chuẩn bị và hoạt động của Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Triển lãm Hội chợ…). Ngoài ra, đài Truyền hình Việt Nam cũng đã đồng ý truyền hình trực tiếp lễ khai mạc và bế mạc trên sóng VTV. Về truyền thông trên mạng Internet, BTC đã xây dựng Website Triển lãm - Hội chợ tại 02 tên miền:www.mekongfair.com và www.trienlammekong.vn (đang cập nhật chạy thử nghiệm, đưa lên Internet vào ngày 08/3/2012).

- Về việc mời gọi tham gia của các đơn vị: Đến nay, đã có trên 250 đơn vị đăng ký tham gia Triển lãm Hội chợ, với số lượng trên 700 gian hàng. Công tác thi công gian hàng, trang trí tổng thể khu vực diễn ra triển lãm - hội chợ… đang được khẩn trương chuẩn bị, nhằm phục vụ tốt yêu cầu của các đơn vị tham gia. Ngoài các hoạt động triển lãm - hội chợ, các chương trình, hoạt động diễn ra bên lề như: Hội thi Trò chơi dân gian và vận động; Hội thi Nhiếp ảnh nghệ thuật về thành tựu 10 năm Tây Nam Bộ; Hội thi nấu ăn Món ngon Nam Bộ; Hội thi tiếng hát hay những ca khúc cách mạng truyền thống… đang được các tiểu ban xây dựng thể lệ, quy chế tổ chức và mời các đơn vị, cá nhân tham gia.

- Về hội thảo, hội nghị xúc tiến đầu tư: Các Bộ, ngành và cơ quan xây dựng nội dung, kế hoạch tổ chức 04 cuộc hội thảo diễn ra tại Triển lãm Hội chợ gồm: (1) Hội thảo xúc tiến đầu tư phát triển ĐBSCL (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN phối hợp Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Bộ KH&ĐT, Phòng Thương mại và Công nghiệp VN, Ngân hàng Nhà nước VN chủ trì); (2) Hội thảo về liên kết phát triển nông nghiệp bền vững ĐBSCL (do Bộ NN&PTNT, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Bộ KH&ĐT, Phòng Thương mại và Công nghiệp VN, Ngân hàng Nhà nước VN chủ trì); (3) Hội thảo Phát triển thị trường tín dụng và dịch vụ ngân hàng vùng ĐBSCL (do Ngân hàng Nhà nước VN, Bộ KH&ĐT chủ trì); (4) Hội thảo tham vấn định hướng phát triển ĐBSCL đến năm 2100 (do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Viện Tư vấn Phát triển CODE chủ trì). Về công tác xúc tiến đầu tư phát triển của vùng, tiểu ban đang tập hợp những danh mục dự án kêu gọi đầu tư của từng địa phương và các dự án chuẩn bị cấp phép, để tổ chức trao giấy chứng nhận đầu tư cho các doanh nghiệp tại lễ bế mạc.

- Về các công tác chỉ đạo diễu binh, diễu hành: Các kế hoạch, kịch bản, chương trình diễu binh, diễu hành đã được xây dựng gửi đến các đơn vị và địa phương tham gia. Theo kế hoạch, sẽ có 03 khối tham gia gồm: trên bộ (14 khối, với 870 người và 19 khối xe hoa, với 57 chiếc), trên không (05 trực thăng vũ trang) và trên sông (09 khối tàu biên phòng, ca nô và tàu đánh cá, với 37 chiếc). Công tác chuẩn bị đang được Tiểu ban phối hợp khẩn trương với các Bộ, ngành TW và địa phương, tổ chức cử người và phương tiện tập dợt, lên kịch bản thuyết minh trong lễ diễu binh - diễu hành; chuẩn bị việc trang trí xe hoa, tàu đánh cá và tập trung tuyên truyền, chuẩn bị tham gia lễ hội quan trọng này.