Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Hội chợ triển lãm thành tựu 10 năm

Hội chợ triển lãm thành tựu 10 năm

Ngày 8 - 3, tại Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức họp báo giới thiệu triển lãm hội chợ thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển ĐBSCL gắn với kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Vũ Văn Ninh chủ trì cuộc họp.


- Theo đồng chí Nguyễn Phong Quang, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, triển lãm hội chợ sẽ diễn ra từ ngày 27 - 4 đến ngày 1 – 5 - 2012 tại khu đô thị Nam sông Cần Thơ (phường Phú Thứ, quận Cái Răng, TP Cần Thơ, với sự tham gia của 500 - 700 gian hàng của gần 500 tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

- Trong ngày khai mạc sẽ có chương trình diễu binh bằng trực thăng, tàu hải quân, tàu cảnh sát biển, tàu đánh cá với công suất trên 90 mã lực trên sông Hậu; diễu hành xe hoa hơn 50 chiếc được trang trí đặc sắc, thể hiện thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển của các tỉnh, thành Tây Nam bộ, thủ đô Hà Nội và TPHCM.

- Phát biểu tại buổi họp báo, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định: ĐBSCL có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, là vùng cung cấp lương thực, thực phẩm nông lâm sản lớn nhất cả nước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đóng góp vào an ninh lương thực thế giới. Triển lãm hội chợ là sự kiện có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khẳng định thành tựu 10 năm các địa phương vùng ĐBSCL thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị và huy động các chương trình an sinh xã hội cho vùng; tổ chức các hội nghị, hội thảo nhằm tìm ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả để đề xuất cơ chế, chính sách phát triển vùng ĐBSCL trong 10 năm tới; thúc đẩy các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch, tạo điều kiện, cơ hội cho các tổ chức, doanh nghiệp quảng bá thương hiệu.

- Phó Thủ tướng kêu gọi các bộ, ban, ngành trung ương, các địa phương, các doanh nghiệp, nhà đầu tư sẵn sàng tham gia triển lãm hội chợ, đồng thời đóng góp hỗ trợ giải quyết vấn đề an sinh xã hội cho các địa phương vùng ĐBSCL.

- Dịp này, đồng chí Vũ Văn Ninh đã bấm nút chính thức đưa cổng thông tin điện tử về triển lãm hội chợ đi vào hoạt động.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

Kỹ thuật nuôi Dúi đơn giản

Thêm kinh nghiệm nuôi Dúi

- Chào bà con nông dân đang có nhu cầu tìm hiểu về con Dúi và muốn nuôi chúng.
Tôi xin nói trước những điều tôi chia sẻ với bà con ơ đây là từ kinh nghiệm chăn nuôi Dúi của bản thân tôi. Tôi cũng không phải là một nông dân thực thụ mà nghề chính của tôi là cán bộ khai thác Bảo hiểm phi nhân thọ của Cty Cổ Phần Bảo Hiểm Thái Sơn GMIC chi nhánh Bắc Lạng. Tôi bắt đầu nuôi Dúi với 10 cặp và hiện nay tôi đã có số lượng đàn dúi khá đông. Trong quá trình nuôi tôi thấy con Dúi nuôi cũng rễ mà cũng khó. Hiện nay tôi thấy rất nhiều bà con quan tâm đến con Dúi tôi rất vui nhưng tôi nghĩ trước khi nuôi bà con cũng cần biết về nó để nuôi được tốt.


- Bà con cần lưu ý khi tìm hiểu và mua Dúi giống. Dúi là động vật hoang dã có mặt ở rất nhiều vùng Rừng ở khắp Việt Nam từ vùng đông bắc, tây bắc đến miền trung, miền nam Việt Nam những nơi mà có sự phát triển của Rừng Tre, Rừng Trúc Và Rừng Nứa..... Hiện nay Dúi giống chủ yếu là Dúi Rừng vì Dúi thuần rất ít không đủ để cung cấp cho thị trường vi vậy khi bà con mua Dúi giống theo tôi cứ mua Dúi nhỏ về nuôi vì như vậy sẽ đảm bảo hơn. Nhiều bà con vội đi mua Dúi to về nuôi để cho nhanh sinh sản nhưng tôi cũng lưu y bà con la nếu mua như vậy sẽ có dủi do. Nếu Dúi to la dúi thuần o các trại nuôi Dúi thì không sao nhưng nếu bà con mua dúi to là Dúi Rừng thì rất rễ dủi do vì Dúi Rừng to mua về rất khó thích nghi với điều kiện nuôi nhốt trong môi trường nhân tạo ( tôi đã từng mua 8 con Dúi rừng về nuôi với giá 650.000đ/con vì thấy giống nó rất to nhưng kết quả là chỉ sau 2tháng nuôi thì chết mất 7 con không rõ nguyên nhân và tôi có người bạn ở Hà Nam cũng bị tương tự). Vì vậy tôi khuyên bà con lên mua Dúi nhỏ về nuôi vì nếu chúng có là Dúi Rừng thì cũng rất rễ thích nghi với cuộc sống nuôi nhốt của con người.

- Tôi nghĩ trong quá trình chăn nuôi bà con cũng không lên vội vàng đặc biệt đối với con Dúi là con vật nuôi rất mới đối với bà con. Chúng ta cần tích lũy kinh nghiệm dần dần trong quá trình nuôi để đạt được hiệu quả kinh tế như mong muốn.

- Tôi sẽ chia sẻ với bà con những kinh nghiệm nuôi Dúi của tô:

1. Về chuồng trại
- Địa điểm chăn nuôi Dúi lý tưởng là khu chăn nuôi phải thật yên tĩnh ( Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình nuôi Dúi sinh sản vì nếu không có đủ độ yên tĩnh cần thiết thì sau khi sinh dúi sẽ ăn con).

- Chuồng nuôi sinh sản bà con có thể Xây với kích thước vuông 0.6*0.6m cao khoảng 0.6m là được (chúng ta không cần xây quá cao vì theo kinh nghiệm của tôi bên trên mỗi ô chuồng sinh sản bà con lên đậy lưới mắt cáo chánh trường hợp chuột vào ăn thức ăn của Dúi cũng làm Dúi mẹ ăn con hoặc không cho con bú....).

- Chuồng nuôi thương phẩm thì theo tôi bà con lên xây môi ô chuồng khoảng 2 m2 là có thể nuôi được 15 đến 20 con/chuồng. Chiều cao của chuồng nuôi thương phẩm có thể xây cao khoảng 80cm và chát, tô thật láng bằng ximăng cho Dúi khỏi leo ra ngoài.

* Lưu ý: Dúi chịu rét tốt hơn chịu nóng vì vậy chuồng trại cần thoáng mát về mùa hè và ấm áp vào mùa đông. Dúi là loài gậm nhấm nó đào hang rất giỏi vì vậy chuồng bà con nuôi cần chắc chắn để Dúi không đào hang và thoát ra ngoài.

2. Về thức ăn
Dúi là loài gậm nhấm trong tự nhiên nó đi kiếm ăn vào ban đêm, ngày ngủ trong hang. Trong tự nhiên Dúi ăn chủ yếu là măng tre, nứa....Trong môi trường nuôi nhân tạo chúng ta cho Dúi ăn tre để nó mài răng, chúng ta cho Dúi ăn Mía để đảm bảo lượng nước cho Dúi ( nuôi dúi không phải cho uống nước mà). Đó là hai loại thức ăn bắt buộc phải có trong quá trình nuôi Dúi. Ngoài ra chúng ta còn có thể tận dụng rất nhiều thức ăn khác cho Dúi ăn như: Ngô, khoai, sắn, Cơm nguội chộn lẫn với cám gạo cho Dúi ăn cũng tốt. Chúng ta có thể cho Dúi ăn Thân cây co Voi, thân cây ngô tươi, thân cây sắn.... Tóm lại chúng ta có thể tận dụng rất nhiều thức ăn cho Dúi vì vậy nhiều người nói chi phí chăn nuôi nó rất thấp.

3. Về nuôi Dúi sinh sản
- Chọn Giống: Hiện nay như tôi đã nói ở trên là Dúi giống đang khan hiếm lên bà con mới nuôi lên chọn mua Dúi nhỏ về nuôi cho đảm bảo về mặt kỹ thuật và an toàn về tài chính trong quá trình đầu tư. Trong quá trình nuôi Dúi sinh sản bà con cần lưu ý khi nào con cái bụng to chúng ta phải tách con cái ra nếu không khi con cái sinh rất rễ bị con đực ăn con hoặc chính nó cũng ăn con. Thức ăn giành cho con cái mang thai và sinh sản phải đầy đủ chúng ta lên bổ sung thức ăn cho chúng trong thời kỳ này như chúng ta có thể cho nó ăn thêm ngô, khoai, sắn....

- Nuôi Dúi thương phẩm: ( hiện nay chưa co dúi để nuôi thương phẩm lên tôi sẽ chia sẻ sau)

4. Về bệnh tật
- Mặc dù Dúi là động vật hoang dã sức đề kháng cao lên rất ít bệnh tật nhưng trong quá trình nuôi tôi thấy Dúi có một số vấn đề như sau:
+ Chuồng trại để mất vệ sinh Dúi có thể bị ghẻ ( Chũa trị: Chúng ta có thể bôi thuốc ghẻ cho nó hoặc nó tự khỏi)
+ Cho ăn thức ăn mốc Dúi có thể bị đi ỉa ( Chữa trị: Chúng ta có thể cho uống thuốc đi ỉa của người)
+ Gần đây tôi thấy Dúi bị bệnh nấm ( chưa rõ nguyên nhân) Chữa trị: Tôi bôi thuốc diệt khuẩn chuồng trại trực tiếp lên chỗ bị nấm của nó và cũng thấy nó khỏi.
+ Ngoài ra như tôi nói ở trên khi tôi nuôi Dúi Rừng một số con chết không rõ nguyên nhân ( có một số bạn chăn nuôi của tôi cũng chia sẻ với tôi như vậy).

- Trước khi nuôi bà con cũng cần tìm hiểu kỹ về con dúi, khả năng đầu tư chăn nuôi của gia đình, tính toán đầu ra cho con vật nuôi của mình nữa.

- Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong quá trình nuôi Dúi. Tôi rất yêu loài vật này lên tôi muốn chia sẻ chút kinh nghiệm nhỏ của mình cho những ai quan tâm đến con vật nuôi mới này. Những chia sẻ của tôi chỉ mang tính chất chia sẻ kinh nghiệm.

Bản tin giá Nông sản tháng 04

Bản tin giá Nông sản tháng 04



- Giá dừa hiện đã giảm xuống mức kỷ lục - chỉ hơn 35.000 - 42 000 đồng/chục, trong khi vào thời điểm này năm ngoái, giá dừa lên đến 150.000 đồng/chục. Người trồng dừa cho biết đây là mức giá thấp nhất trong liên tiếp 3 năm qua. Một trong những nguyên nhân khiến giá dừa bị tuột giảm là do ảnh hưởng sức tiêu thu các sản phẩm dừa trên thế giới giảm. Theo nhận định của các nhà kinh tế thì giá dừa sẽ phục hồi trở lại do hiện nay đang vào cuối vụ, sản lượng dừa đã bắt đầu giảm. Trong khi đó giá dừa xiêm xanh đang tăng và đứng ở mức cao từ 55.000 - 60.000 đồng/chục. Giá dừa xiêm tiếp tục tăng khi trong tuần cơ sở Hương Miền tây ở huyện Mỏ cày Bắc đã ký hợp đồng xuất khẩu mỗi ngày khoảng 20.000 trái dừa xiêm, và đã triển khai hệ thống thu mua trên địa bàn toàn tỉnh. Giá thu mua của cơ sở Hương miền tây ở mức 70.000 đồng/chục dừa xiêm tai vườn, 72.000 - 75.000 đồng/ chục tại cơ sở.Như vậy khả năng trong thời gian tới giá dừa sẽ tăng.

- Cũng trong tuần giá bưởi da xanh tăng thêm 1000 đ/kg tại các huyện. Tại cơ sở Hương miền tây đã thu mua cao hơn 1000 - 2.000 đ/kg so với hai tuần trước. Bưởi loại 1 lên 32.000 - 33.000 đ/kg , bưởi loại 2 ở mức 28.000 đ/kg. Trong tuần giá sầu riêng cũng ở mức cao, giá mua bán tại vườn ở mức R-6: 25.000 - 29.000 đ/kg. Riêng trái chôm chôm cũng đứng ở mức cao từ một tháng nay: Chôm chôm Java 15.000 đ/kg; chôm chôm Rông riêng 40.000 đ/kg; chôm chôm đường 35.000đ/kg. Do đang ở vào vụ nghịch, nên giá chanh trong tuần vẫn đứng ở mức cao, giá thua mua tại chợ chanh Lương quới – Giồng Trôm ở mức 38.000 - 40.000 đ/kg chanh loại 1.

- Trong tuần giá heo hơi ở mức 42.000 - 44.000 đồng/kg.Với giá này nếu nuôi ít sẽ không có lãi. Giá gà nuôi trại ở mức 75.000 - 77.000 đồng/kg; giá gà thả vườn ở mức 80.000 - 85.000 đồng/kg.

- Giá nông – thủy sản – vật tư Nông nghiệp:








Chăm sóc chim cu gáy đẻ

Chăm sóc chim cu gáy đẻ

1. Chọn chim gáy ghép đẻ
- Màu sắc: Chọn được loại mã ngỗng, mã sáng, bất đắc dĩ mới dùng loại mã sẻ

- Vóc dáng: Ngực nở, chân mảnh, thấp; mắt to, lồi; tiếng chim gáy phải to, pha thổ là tốt hơn.

- Chim đực: Yêu cầu chim đực phải ơ thời kỳ khoẻ nhất, gáy mở mỏ to tối đa, biết xa cầu nhấp cánh, biết gáy dỗ mái…

- Chim mái: Yêu cầu ở thời kỳ sung sức, gáy rất nhiều, gụ như gáy đực, có hiện tượng theo trống.

- Chọn đôi gáy đối nhau: dù để ở đâu nghe tiếng gáy của nhau đều gáy đôi, gáy gọi, gáy dỗ, có biểu hiện theo nhau (như đi tìm hiểu). Khi ta để hai lồng gần nhau thì chim đực xa cầu nhấp cánh, chim mái ở lồng bên men đến rỉa mỏ đó là động tác ưng thuận có thể ghép được.

- Cần chú ý thêm: Nhất thiết chim mái phải đẻ ra hai lần hai trứng mới ăn chắc là loại gáy biết đẻ. Trước khi đẻ chim mái rất hăng vì tức trứng và gáy gọi chim đực. Tiến hành treo hai lồng gần nhau, một thời gian làm quen thấy quyến luyến nhau ta thả chim mái vào lồng đẻ trước, chuồng đẻ phải thoáng, tĩnh, nhưng phải gần người, tránh gió mùa đông, tránh nắng hướng tây, có mái che nắng mưa, tránh các công trình chăn nuôi khác, kích cỡ lồng 1,5m×2m×2m. Dưới nền trải cát phẳng, trong chuồng đặt cây tươi có cành bò ngang, hoặc cây khô cũng được để chim đậu, tiện bay nhảy lên xuống. Chuẩn bị ổ: đan rổ bằng tre, phải thưa thoáng.

- Một số điểm cần lưu ý:
+ Nuôi chim gáy đẻ không phải dễ, ổ phải đặt nơi kín đáo, không để lộ thiên, không được che bớt ánh sáng mặt trời ban ngày và ánh điện ban đêm. Tránh tiếng động làm chim sợ. Khi chim ấp, tránh người đi qua lại. Không được sờ tay lên trứng làm mất dấu ổ hoặc chuyển ổ chỗ khác. Đôi khi trống mái hay xung đột quậy phá để chim ấp không yên tâm, trứng sẽ bị ung, chim bỏ ấp là hỏng.
+ Chim đẻ từ hai đến ba ngày được hai trứng, ấp trong mười bốn đến mười lăm ngày là nở hết. Chu kỳ chim đẻ từ ba mươi lăm đến bốn mươi ngày một lứa. Quy luật chúng thay nhau ấp, chim đực ấptừ khoảng chín giờ sáng đến ba giờ chiều, chim mái thay từ ba giờ chiều đến chín giờ sáng hôm sau. Cũng có thể sẽ dịch chút ít thời gian, có khi chim đực ấp nhiều hơn, có khi chim mái ấp nhiều hơn.

2. Kỹ thuật chăm sóc gáy non


Chim non nở từ 4 – 5 ngày thì kiểm tra ổ xem có sâu bọ dưới đáy ổ không, nếu có thì khắc phục ngay. Gáy non được mười ngày thì bắt ra nuôi bộ để quen với người. Cho gáy non ăn gạo xay, lạc, vừng, cám tổng hợp. Nhai mớm cho chim ngày hai đến ba lần và cho uống nước sạch, thiếu nước chim sẽ yếu dần và lử đi, khi chim non biết mổ, ngày cho ăn thêm một lần, cần để gáy con tự mổ thức ăn, thường uyên kiểm tra khi nào ăn mạnh thì không phải bón nữa.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Hướng dẫn ương Tôm Càng Xanh

Hướng dẫn ương Tôm Càng Xanh

Tôm càng xanh là đối tượng thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao, được nuôi nhiều nước trên thế giới. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương vườn, ruộng lúa, ao hồ... ngày càng phát triển.


1. Lợi ích việc ương
- Trở ngại lớn nhất đối với các nông hộ khi nuôi tôm thịt từ giống nhân tạo mua từ các cơ sở ương là về chất lượng (kích cỡ không đồng đều) và giá tôm giống cao (chiếm 30% chi phí sản xuất). Để giảm thiểu tối đa tổn thất cho người nuôi thì việc chọn hình thức ao ương sang (ương ngay trong ao nuôi thịt) sẽ khắc phục được tình trạng khó khăn lúc thu hoạch (hao hụt nhiều do thao tác) và công việc vận chuyển tôm đến ao nuôi (có thể làm tôm bị yếu).

- Lợi điểm chính của ao ương sang là tôm tập trung nên có thể theo dõi chính xác hơn và cho ăn dễ dàng hơn. Do đó, việc ngăn một phần ao nuôi để ương tôm là có hiệu quả hơn dùng hệ thống ao ương riêng biệt đối với các nông hộ sản xuất tôm thịt.

2. Công trình ương
- Chọn địa điểm: Nơi có nguồn nước tốt và giữ được nước, chủ động nguồn nước cấp khi cần thiết để thay.Thuận lợi giao thông cho việc vận chuyển tôm giống; Gần nơi cung cấp nguồn post. Việc chọn địa điểm phù hợp cho sản xuất nhằm giảm giá thành xây dựng, giảm chi phí sản xuất và có thể điều chỉnh hệ thống nuôi cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất mà người nuôi nên cẩn thận xem xét.

- Diện tích phần ương: Dựa trên nhu cầu số lượng tôm giống cần cho nuôi thịt và mật độ thả ương để quyết định diện tích phần ương trong ao, có thể chiếm từ 15 - 20% diện tích ao nuôi. Phần ương này có thể giới hạn lại bằng cách dùng lưới để ngăn ao hoặc dùng giai đặt trong ao để ương. Đối với những hộ ương để cung ứng giống cho người nuôi tôm thịt cũng phải căn cứ vào nhu cầu con giống trong khu vực để bố trí ao ương cho phù hợp, thường từ 300 - 500 m2/ao để thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý.

- Hệ thống cấp thoát nước và mực nước : Bố trí cống cấp và thoát nước dạng chìm, riêng biệt với tổng đường kính cống từ 30 - 50 cm/1000m2 đặt ở đầu và cuối ao nuôi với yêu cầu:Đảm bảo cấp đầy hay tháo cạn nước trong vòng 4 - 6 giờ; Cống thoát nằm ở nơi thấp nhất; Độ dốc đáy ao là 1:200 giảm dần từ cống cấp đến cống thoát.Trong suốt quá trình ương phải duy trì mực nước từ 0,8 - 1,2m.

- Giá thể: Dùng chà tre khô bó lại thả xuống ao để tạo nơi trú ẩn cho tôm, tốt nhất diện tích thả chà nên chiếm 5% diện tích mặt nước.

3. Các biện pháp kỹ thuật
- Chất lượng nước ao: Một số chỉ tiêu môi trường nước thích hợp trong ao ương nuôi tôm càng xanh cần duy trì trong quá trình sản xuất:
+ Nhiệt độ:28 – 30 độ C.
+ Độ trong: 25 - 40 cm.
+ Oxy hòa tan: 4 - 7 mg/l.
+ Độ pH: 7 – 8.
+ H2S: 0,01 - 0,05 mg/l.
+ NO2-: 0,01 - 0,3 mg/l.
+ NH3+: 0,05 - 0,7 mg/l.

- Chuẩn bị ao ương
+ Cải tạo ao: Ao ương trước khi thả giống 7 ngày cần phải được cải tạo đúng qui trình: tát cạn ao; bắt hết cá dữ, cá tạp và các địch hại khác gây nguy hại cho tôm ương; vét bớt bùn đáy chỉ để lại khoảng 10-20 cm bùn; san bằng nền đáy dốc về phía cống thoát; đắp bờ, lấp hang hốc; phơi đáy ao 2-3 ngày...
+ Bón vôi: dùng vôi sống CaO với liều lượng liều lượng 10 -15 kg/100 m2 nhằm vệ sinh, khử trùng ao ương và phòng bệnh cho tôm; Lấy nước vào ao ương 0,3 - 0,5 m qua cống cấp có lưới xanh nhiều lớp hoặc vải thật mịn để ngăn ngừa cá tạp và địch hại; Gây màu nước bằng phân chuồng đã ủ hoai thật kỹ với liều lượng 100 - 150g/m3 nước, cần ngâm trong nước 1 ngày, sau đó tóe đều khắp mặt ao để tránh phân bị trôi dạt về phía góc ao. Nếu có điều kiện có thể bón thêm phân vô cơ hàng tuần từ 0,5 - 1kg/1000 m2. Tốt nhất là sử dụng phân gà phơi khô hoặc phân gà vi sinh (có bổ sung một số khoáng vi lượng); Sau khi bón 3 ngày khi thấy nước có màu xanh lá non thì tiếp tục cho nước vào cho đến 0,8 - 1,0 m rồi tiến hành thả post.

- Thả giống:
+ Chọn giống: postlarvae có ngày tuổi từ 12 - 15 có kích cỡ đồng đều, không dị hình, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc đặc trưng.
+ Mật độ thả: ương với mật độ vừa phải từ150 - 200con/m2 tùy vào trình độ kỹ thuật, nhu cầu con giống, khả năng cung cấp thức ăn cho tôm.
+ Thời điểm thả ương: từ tháng 4 - 6 và từ tháng 8 - 10 dl.
+ Cách thả giống: vận chuyển post trong bao có bơm oxy vào lúc mát trời. Để tránh tôm bị sốc nhiệt độ nên ngâm bao chứa tôm trong ao ương từ 15 - 20 phút, sau đó mở miệng bao tát nước vào từ từ và để tôm tự bơi ra. Chú ý nên thả tôm cách bờ trên 1 m vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

- Chăm sóc và quản lý:
+ Cho ăn: Loại thức ăn: nên sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên dành cho tôm càng xanh giống với hàm lượng đạm từ 30 - 35% để cung cấp dinh dưỡng ổn định cho tôm trong sốt quá trình ương. Ngoài ra, tùy sự sẵn có các nguồn thức ăn ở địa phương như cá biển, ốc bươu vàng, cua đồng, hến...dùng thay thế một phần thức ăn công nghiệp sau khi ương được 15 ngày bằng cách xay nhỏ rồi mới cho tôm ăn.
+ Lượng thức ăn: cho ăn 20% TLT đối với ương mật độ 200 con/m2. Có thể ước tính liều lượng cho ăn của 10.00 tôm post như sau: Ngày thứ 01 - 10: 25 - 35g/ngày , Ngày thứ 11 - 20: 40 - 50 g/ngày , Ngày thứ 21 – 30: 60 - 80g/ ngày.
+ Thời gian cho ăn: nên cho tôm ăn 3 - 4 lần/ ngày.Vào lúc sáng sớm và chiều mát thì lượng cho ăn trong ngày phân chia nhiều hơn các lần còn lại.
+ Sàng ăn : sử dụng sàng ăn để kiểm tra việc cho ăn, biết được khả năng sử dụng thức ăn, sức khỏe của tôm để kịp thời điều chỉnh hàng ngày lượng thức ăn cho phù hợp với sự sinh trưởng của tôm nuôi. Có thể bố trí 02 sàng ăn /300m2 với đường kính 70 - 80 cm hoặc hình vuông với kích thước 60 x 60cm, đặt sát đáy ao, nơi sạch và hơi xa bờ ao.
+ Chăm sóc:Thường xuyên kiểm tra bờ, lưới, cống để tránh thất thoát, không cần thay nước, chỉ bổ sung lượng nước bốc hơi, các thông số như pH và độ trong nên kiểm tra hàng ngày để theo dõi sự biến động của môi trường ương.

4. Thu hoạch tôm ương
- Sau một tháng ương, bung vèo hoặc giai cho tôm ra ao. Tỉ lệ sống từ 70 - 85% .Trọng lượng bình quân 0,5 - 1,0g/con, có thể đạt kích cỡ từ 3 - 5 cm. Đối với ao ương riêng biệt thì trước khi thu hoạch phải chuẩn bị giai chứa để trong ao hay bể có sục khí. Nên thu hoạch vào sáng sớm bằng cách tháo cạn nước, dùng lưới kéo thu một phần sau đó tát cạn thu toàn bộ.

- Cách vận chuyển tôm giống: Dùng bao nilon cỡ 60 x 90 cm có bơm oxy chuyển từ 1000 - 1500 con/bao cho vào khoảng 5 - 10 lít nước của bể chứa tôm vận chuyển trong 8 - 10 giờ.

Hướng dẫn lai tạo cá Betta hay

Kỹ thuật lai tạo cá Betta



Cá cẩm thạch được lai tạo trong các lọ đựng bơ đậu phộng bởi một tù nhân tên là Orville Gulley. Câu chuyện như sau, Orville cố gắng tạo ra cá betta bướm đen và vô tình phát hiện ra gen cẩm thạch. Ông gửi vài con cho Walt Maurus, một thành viên IBC (và một số nhà lai tạo khác) người phát hiện ra vẻ đẹp của chúng và bắt đầu lai tạo dòng cá này. Chúng giống như những con ngựa Pinto trong thế giới cá betta với những vệt sẫm trên nền thân màu nhạt hay ngược lại. Con cá cẩm thạch đầu tiên có hai màu đen/trắng nhưng sau đó người ta phát triển thành vô số dạng màu khác nhau và dùng chúng để tạo ra những dòng cá betta mới.





1. Kỹ thuật lai tạo cá Betta
- Gen cẩm thạch cỏ vẻ như chỉ trội một phần (có người lại cho rằng nó là gen đồng trội hay gen lặn một phần) vì thế lai cẩm thạch với cá đơn sắc sẽ tạo ra đa số là cá đơn sắc và một số ít cá cẩm thạch. Nếu cá cha mẹ đều mang gen cẩm thạch thì tỷ lệ cá con cẩm thạch sẽ cao hơn. Gen cẩm thạch tác động lên bề ngoài của cá theo cách không thể đoán trước được, tức là bất kỳ kiểu kết hợp màu sắc và hoa văn nào. Tuy nhiên, nhà lai tạo có lẽ phải trải qua nhiều thế hệ (và tuyển chọn) trước khi hình thành ý tưởng và sau đó lại đối diện với thách thức tạo ra dòng cá mới.



- Lai tạo cá cẩm thạch với nhau thường tạo ra cá đơn sắc nền sẫm, đơn sắc nền nhạt, cá bướm và cá cẩm thạch. Cá bướm đơn sắc xuất xứ từ dòng cẩm thạch sẽ có cùng đặc điểm di truyền với cá đơn sắc cũng ở dòng cẩm thạch; khi cá bướm lai với cá đơn sắc xuất xứ từ dòng đơn sắc, cá con sẽ mang gen bướm trội một phần.



- Lai giữa cá đơn sắc nền sẫm hay đơn sắc nền nhạt xuất xứ từ dòng cẩm thạch sẽ tạo ra cá cẩm thạch, cá đơn sắc và cá bướm. Nếu gen cẩm thạch được giới thiệu vào dòng cá đơn sắc thì sẽ cực kỳ khó để quay trở lại dòng cá đơn sắc. Cá con sẽ luôn dính ít nhiều màu cẩm thạch hay màu lạ. Lai xa dòng cẩm thạch với dòng khác sẽ tạo ra hiệu ứng “cẩm thạch” trên màu sắc của các dòng đó.



2. Hiện tượng Gen nhảy
- Một trong những nguyên tắc cơ bản mới được phát hiện gần đây trong ngành di truyền đó là sự tồn tại của “yếu tố di chuyển” hay còn gọi là “gen nhảy”. Trên thực tế, tồn tại những gen mà chúng có khả năng di chuyển từ vị trí này sang một vị trí khác trên chuỗi nhiễm sắc thể. Đôi khi chúng chèn vào một vị trí và tác động lên hoạt động của gen ở vị trí đó. Điều này làm cho tế bào (và các nhân bản của nó) không có khả năng hoàn tất một nhiệm vụ cụ thể liên quan đến gen đó. Bởi vì gen nhảy chỉ tạm thời nằm ở một vị trí cụ thể trên chuỗi nhiễm sắc thể, cho nên sự mất tác dụng của gen chỉ là tạm thời.



- Nếu gen nhảy tồn tại và nó chèn vào vị trí gen chịu trách nhiệm tạo ra sắc tố đen, nó sẽ làm ngưng việc sản xuất sắc tố đen từ đó các tế bào (và nhân bản của chúng) không thể tạo ra sắc tố đen. Điều này tạo ra những đốm chẳng hạn đốm trắng hay đốm mờ. Điều ngược lại cũng có thể xảy ra! Nếu tế bào không có khả năng tạo ra sắc tố đen bởi vì sự hiện diện của gen nhảy, và khi gen này dời đi thì tế bào (và các nhân bản của nó) lại có khả năng tạo ra sắc tố đen và màu đen lại xuất hiện. Đôi khi những đốm đen trên nền thân nhạt màu của cá cẩm thạch bỗng xuất hiện điểm trắng ở chính giữa (trông giống như con mắt). Điều này có thể giải thích một cách dễ dàng nếu bạn nghĩ rằng những tế bào nhân bản ban đầu không thể tạo ra sắc tố đen bởi vì sự hiện diện của gen nhảy (tạo ra nền thân nhạt màu) sau đó gen nhảy dời đi làm cho màu đen xuất hiện (tạo ra những chấm đen), rồi ở một số tế bào, gen nhảy quay lại và hạn chế sắc tố đen làm xuất hiện điểm trắng bên trong những đốm đen.



- Lý thuyết về “gen nhảy” có thể được sử dụng để giải thích tại sao một số cá cẩm thạch lại không hề có hoa văn “cẩm thạch”. Nếu “gen nhảy” không chèn (trường hợp nền sẫm) hay dời đi (trường hợp nền nhạt) ở bất kỳ tế bào nào trong suốt quá trình sinh trưởng của cá thì hoa văn “cẩm thạch” sẽ không xuất hiện. Bây giờ, điều này cũng có thể xảy ra với những màu khác… chẳng hạn các màu xanh lục, xanh dương, xanh thép và đỏ. Gen nhảy sẽ chèn vào chuỗi gen và bật hay tắt khả năng tạo sắc tố ở những tế bào nhân bản.



- Có rất nhiều bằng chứng cho thấy gen nhảy hay “yếu tố di chuyển” có thể là nguyên nhân tạo ra đặc điểm “cẩm thạch” ở cá betta. Sự xuất hiện của đặc điểm cẩm thạch có thể được lý giải bằng lý thuyết này. Nhưng để chứng minh nó có thể sẽ rất khó khăn. Có một điều chắc chắn luôn đúng: cho dù bạn có thích cơ chế di truyền của cá cẩm thạch hay không thì cũng phải thừa nhận rằng chúng rất đẹp.

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Hướng dẫn nuôi ong mật

Video Kỹ thuật nuôi Ong Mật

Nhằm giúp người nuôi ong có thêm kinh nghiệm chúng tôi xin giới thiệu Video Kỹ thuật nuôi ong mật đến độc giả.