Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

Mô hình chăn nuôi đạt hiệu quả

Mô hình nuôi Trăn làm giàu

Nông dân ngày nay có thể làm làm giàu nhanh chóng mà không cần diện tích đất quá rộng bằng việc áp dụng các mô hình chăn nuôi hiệu quả. Mô hình nuôi trăn của ông Nguyễn Văn Ngọc Lợi, ấp An Nhơn 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam là một điển hình thu lãi hàng trăm triệu đồng mỗi năm.





- Mê thích nuôi trăn từ nhỏ, nhờ biết tìm tòi, học hỏi tham quan nhiều nơi, anh Nguyễn Văn Ngọc Lợi, ấp An Nhơn 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam đã chọn con trăn trong phát triển kinh tế và anh đã rất thành công với mô hình này. Năm 2002, anh Lợi bắt đầu chuyển sang nghề nuôi trăn. Ban đầu với nguồn vốn ít ỏi nên anh chỉ mua 10 trăn con với giá 200.000 đồng mỗi con về nuôi thử nghiệm. Sau thời gian khoảng 1 năm, trăn lớn nhanh đạt trọng lượng từ 5-6 kg/con, anh bán lứa trăn đầu tiên đã thu được lợi nhuận trên 30 triệu đồng. Từ đó anh đã quyết định mua thêm trăn về nuôi và duy trì nghề nuôi trăn cho đến nay.



- Kinh nghiệm nhiều năm nuôi trăn đem lại hiệu quả kinh tế cao anh Lợi cho biết: Nuôi trăn không khó, trăn lớn nhanh nếu cung cấp đầy đủ thức ăn. Từ lúc nuôi trăn đến nay, lúc nào gia đình anh Lợi cũng duy trì tổng số ngoài 50 con trăn thịt và ngoài 200 trăn con. Bình quân mỗi năm, gia đình anh bán khoảng 20 con trăn với giá từ 220.000 – 250.000 đồng/kg tùy lọai, trừ đi mọi khoảng chi phí gia đình anh thu lãi từ 120 triệu đồng đến 150 triệu đồng. Hiện tại gia đình anh Lợi còn 25 con trăn với trọng lượng từ 50 – 60 kg và 15 con trăn trọng lượng 5 - 6 kg.



- Ngoài nuôi trăn thịt, anh Lợi còn nuôi trăn sinh sản để duy trì đàn. Số trăn hiện tại do anh gầy giống đều do trăn nhà đẻ, ấp nở được nhốt trong chuồng. Trăn cái sinh sản mỗi năm một lần, mỗi lần từ 50 – 60 trăn con, tỷ lệ hao hụt rất ít. Trăn thường đẻ trứng vào tháng 2 tháng 3 hàng năm, ấp trứng kéo dài khoảng 2 tháng trứng bắt đầu nở ra trăn con. Trăn con rất háo ăn nếu cung cấp đủ thức ăn thường xuyên ở giai đoạn này trăn sẽ mau lớn. Trăn ngay khi nở đã biết ăn, thức ăn của chúng là gà con và chuột nhỏ… Đặc biệt trăn là loài máu lạnh, ưa ấm và rất nhạy cảm với nhiệt độ thấp. Trong suốt thời gian mùa lạnh trăn rất ít ăn và ít cử động, nông dân không nên cho trăn ăn vào mùa này. Năng lượng cung cấp cho sự sống lúc này là nhờ lớp mỡ tích tụ trong cơ thể để duy trì sự sống.



- Hiện nay, trăn có trọng lượng từ 5 - 6 kg, anh Lợi bán với giá từ 250.000 – 270.000 đồng/kg. Trăn có trọng lượng từ 30 - 40kg bán với giá từ 200.000 - 220.000 đồng/kg. Nuôi trăn nhẹ công và ít vốn không sợ rủi ro hay lỗ vốn. Nuôi trăn cho ăn thức ăn cũng không nhiều nhưng lợi nhuận rất cao. Trung bình đầu tư 6 kg thức ăn, trăn sẽ tăng trọng lên 1 kg. Để giảm bớt chi phí thức ăn cho trăn anh Lợi tìm mua những con mồi như: gà con và heo con chết ngạt,.. giá thấp từ 15.000 - 20.000 đồng/kg để có nhiều lời hơn. Theo anh Lợi tính toán nếu đầu tư 6 kg thức ăn, trăn sẽ tăng trọng 1 kg. Với giá thức ăn cho trăn bình quân khoảng 60.000 đồng đến lúc bán trăn mỗi kg trăn bán được bình quân 250.000 đồng, nông dân lãi gần 200.000 đồng mỗi kg trăn.



- Chuồng là yếu tố quan trọng trong khi nuôi trăn, bởi trăn rất khỏe. Chuồng được đóng thùng hình chữ nhật bằng cây ở lớp trên và lớp dưới, xung quanh được phủ kín bằng lưới chì lỗ vuông để tạo sự thông thoáng cho trăn. Nhốt trăn ở trong chuồng đậy nắp cẩn thận để trăn không xổng chuồng mà đi. Cách khoảng 1,5 tháng anh Lợi vệ sinh chuồng một lần tránh hôi thối mùi thức ăn còn dư thừa.



- Trăn là loài háo nước, trong chuồng lúc nào cũng dự trữ nước để cung cấp nước uống cho trăn, nếu bị thiếu nước sẽ làm lớp da bên ngoài bị khô và dễ bong tróc,.. Nuôi trăn khỏe mạnh bình thường, cách 2 tuần cho ăn một lần hoặc có thể mỗi tháng cho ăn từ 2- 3 lần. Khi trăn lớn nên tách ra nhốt riêng tránh để chung chuồng vì trăn sẽ tranh giành thức ăn với nhau. Theo anh Lợi: nuôi trăn là cách phát triển kinh tế nhanh và bền vững mà không sợ rủi ro. Để tiết kiệm chi phí thức ăn người nuôi có thể tận dụng những động vật hoang dã như bẫy chuột trên cây dừa làm thức ăn cho trăn, vừa bảo vệ năng suất vườn dừa không bị chuột xâm hại còn có lợi đối với việc nuôi trăn.



- Từ nuôi trăn đạt hiệu quả cao của anh Lợi, ở địa phương có nhiều nông dân đến tham quan và nhân rộng mô hình.

Phương pháp uốn cành đạt chuẩn

Kỹ thuật uốn cành

Kỹ thuật uốn cành, tạo thế cho cây bonsai là một việc làm thường xuyên mà bất kỳ người chơi bonsai nào cũng phải thực hiện. Thông thường, tùy vào loại cây mà người làm bonsai sẽ biết nên chọn thời điểm nào để thực hiện các kỹ thuật uốn cành.





1. Kỹ thuật uốn cành
- Vì một lý do khách quan hay chủ quan nào mà bạn buộc phải uốn nắn những cành cây dễ gãy hoặc quá to thì đó là một việc làm khó. Đôi khi chỉ vì sơ ý, bạn có thể làm hỏng cả cây cảnh. Dưới đây là một vài gợi ý và phương pháp giúp cho bạn tham khảo khi gặp các trường hợp khó khăn như vậy.



- Có nhiều phương pháp uốn cành. Cách thức cổ truyền Trung Quốc là uốn cành bằng dây cọ (loại cây họ cau dừa), hiện nay vẫn còn được áp dụng. Nhưng hiện nay người ta thích dùng dây kẽm hơn. Hầu hết người yêu bonsai đều uốn cành bằng dây kẽm, vì nhanh chóng và tiện lợi hơn.



- Trước khi uốn, ta tỉa bớt lá, cắt bỏ những cành quá sát nhau gây khó khăn trong việc tạo thế cây. Trong cấu trúc bonsai, nên tránh những cành song song, tỏa đều, gối lên nhau, uốn về phía sau, trước chéo, đối xứng và cành rũ. Nên loại bỏ vỉ chúng làm mất vẻ thẩm mỹ của tổng thể cảnh quan.



- Tiến trình của việc uốn là trước hết uốn thân chính, rồi đến cành chính, sau là những cành quanh thân cây khởi đi từ gốc lên ngọn, cành lớn trước, cành nhỏ sau. Để quấn thân cây bằng dây kẽm, ta cắm một đẩu dây kẽm sâu trong đất của mâm. Không quấn quá chặt hay quá lỏng và đường quấn chéo phải hình thành những góc 450 với trục thẳng đứng của cây.



- Sau khi quấn xong, ta uốn cành bằng cách xoắn thật nhẹ nhàng theo hướng quấn dây kẽm để dây kẽm luôn luôn được giữ chặt vào vỏ cây. Những loại cây sớm rụng lá thì thường mau tăng trưởng, do đó, có thể tháo dây kẽm sau ba, bốn tháng.



- Còn đối với thông, bách thì phải hơn một năm. Những cây hay cành lớn thì thời gian sẽ lâu hơn. Nếu cây hay cành trở lại hình dáng ban đầu sau khi ta tháo bỏ dây kẽm, hãy quấn lại một lần nữa và buộc chặt. Vì vỏ cây thích và lựu hơi mỏng, ta cần bọc dây kẽm bằng một lớp giấy để không làm đau cây đồng thời ngăn cản sức nóng mặt trời truyền vào dây kẽm, làm hỏng cây. Phải để ý tháo bỏ dây kẽm đúng lúc, nếu không, dây kẽm sẽ ăn ngập sâu vào trong vỏ làm hại đến sự phát triển của vỏ cây.



- Để tạo dáng già nua cho cây, gọt bỏ vỏ một số cành rồi rắc hỗn hợp vôi - lưu huỳnh vào chỗ gọt để chúng đổi sang màu trắng. Trong thiên nhiên, rễ của cây già thường lộ trên đất, bò ngoằn ngoèo. Để tái tạo cảnh kỳ dị đó, rút rễ cây thật nhẹ nhàng hàng năm khi ta trồng lại cây vào mâm hay chậu khác, cây sẽ dần dần phô bày rễ trên mặt đất. Ta uốn rễ vào thời gian còn ít tuổi cũng bằng cách cuốn dây kẽm sẽ mục trong đất, nhưng những rễ ngoằn ngoèo sẽ giữ nguyên hình dáng



2. Kỹ thuật uốn cành to, cành dễ gãy
- Việc uốn cành, tạo dáng cho cây bonsai là một việc làm thường xuyên mà bất kỳ người chơi bonsai nào cũng phải thực hiện. Thông thường, tùy vào loại cây mà người làm bonsai sẽ biết nên chọn thời điểm nào để uốn cành. Vì một lý do khách quan hay chủ quan nào mà bạn buộc phải uốn nắn những cành cây dễ gãy hoặc quá to thì đó là một việc làm khó. Đôi khi chỉ vì sơ ý, bạn có thể làm hỏng cả cây bonsai. Dưới đây là một vài gợi ý và phương pháp giúp cho bạn tham khảo khi gặp các trường hợp khó khăn như vậy.



- Cần xác định độ chịu đựng được của cành cây vì không kể về đặc điểm mềm dẻo khác nhau của từng loại cây thì bất cứ cây nào cũng vậy, mỗi cành cây đều có một độ cong nhất định tùy vào vị trí và hướng của nó mọc trên thân cây. Nó sẽ không chịu được sức bẻ ngược lại. Đối với những cành này, nếu bạn cố sức uốn theo cách của mình thì cần phải làm thật chậm, hoặc nếu cảm thấy không đủ kiên nhẫn thì bạn nên nghĩ đến một phương án khác để xử lý nó chứ tuyệt đối không được vội vàng mà “sôi hỏng bỏng không”.



- Theo kinh nghiệm và kiến thức về các loại cây của bạn mà bạn biết rằng mỗi loại cây có độ mềm dẻo khác nhau, do đó tùy vào loại cây mà bạn chọn cách thức nhất định để uốn và xác định mức độ tác động. Nếu bạn vẫn còn băn khoăn không biết độ uốn của cành cây như thế nào thì trước tiên hãy uốn ở một mức độ nào đó đã, rồi để cho cây quen dần, ít hôm sau bạn lại uốn tiếp.



- Sử dụng dây chằng xoắn để uốn các cành to và khó uốn vì phương pháp cuốn dây đối với những trường hợp này gần như không thể thực hiện được. Dây chằng xoắn thường được sử dụng là loại dây đồng mảnh có đường kính từ 1 - 1,5mm. Bạn có thể buộc đầu kia của dây chằng vào các điểm neo khác nhau, chẳng hạn như một cành cây khác, hoặc một nhánh cây gãy, hay là cái lỗ bên hông chậu, hoặc cũng có thể buộc vào một sợi rễ to nào đó, hay thậm chí vào một cái móc, cái đinh vít được đóng vào thân cây. Điều lưu ý đầu tiên khi sử dụng dây chằng để uốn cành là để ý đến phần đệm. Sợi dây mảnh sẽ cứa đứt thân cành nếu bạn không đệm vào đó 1 miếng cao su.



- Bạn dùng một thanh kim loại chắn ngay điểm giữa để xoắn dây. (Ở đây để hình được rõ, chúng tôi không thể hiện phần đệm, nhưng bạn vẫn phải luôn chú ý đến vấn đề đó). Lợi thế của biện pháp này là hai phần dây ở hai bên xoắn vào nhau, do đó đoạn dây ngắn đi, và kéo các cành cây lại với nhau với một lực rất mạnh. Nó đặc biệt hữu ích khi bạn dùng để uốn những cành cây cực kì “khó nắn”, tốt hơn nhiều so với cách dùng tay. Hơn nữa, đối với những cành cây giòn hoặc có nguy cơ dễ bị nứt, bị gãy, dây chằng xoắn có thể giúp giữ được chúng trong vòng nhiều tuần, giảm nguy cơ làm hỏng cành cây.



- Phần thân chính của cây Thích đỏ Nhật Bản này đã bị chết ngọn. Để lấp đầy khoảng trống tán lá trên đỉnh, cần phải kéo những cành cây to dày và dễ gãy xung quanh lại với nhau. Và điều này đã được thực hiện nhờ dùng biện pháp xoắn dây chằng với một điều độ thích hợp



- Ngoài phương pháp sử dụng dây chằng xoắn, hiện nay trên thị trường có 1 số dụng cụ uốn cành chuyên dụng, tùy trường hợp, bạn có thể sử dụng tăng đơ hoặc nẹp



- Sử dụng nẹp uốn: Nguyên tắc uốn của dụng cụ này giống như phương pháp dùng dây chằng xoắn, chỉ khác ở chỗ thay vì kéo cành cây cần uốn và điểm neo lại với nhau bằng cách xoắn sợi dây chằng, thì bạn dùng 1 thanh kim loại để siết chặt 2 đầu của nẹp uốn lại.



- Nẹp uốn có ưu điểm là (nếu đủ dài), nó có thể kéo được cành cây nhiều hơn so với khoảng cách giới hạn mà biện pháp dây chằng xoắn mang lại. Tuy nhiên, nếu dùng trong khoảng không gian chật hẹp thì hơi bất tiện, và thậm chí không thể áp dụng được cách làm này.



- Khóa uốn cành là một loại dụng cụ bằng kim loại có hai răng giúp kẹp chặt cành cây, cho phép người dùng có thể tác động mạnh hơn đến cành, uốn chúng vào đúng vị trí mà mình mong muốn (sau đó chúng ta sẽ buộc dây chằng vào vị trí đó).



- Nẹp ba chân cũng là một dụng cụ để uốn các cành cứng. Với hai chân bên ngoài được móc vào cành, chân chính giữa từ từ (bằng cách điều khiển mức ren) sẽ uốn cong cành cây. Tuy nhiên dụng cụ uốn này ít được ưa chuộng vì nó rất dễ làm thương tổn đến thân cây, ngay cả khi đã dùng miếng lót cao su. Thêm nữa, những cành cây khả dĩ dùng “nẹp ba chân” được thì cũng có thể dùng dây quấn, dây chằng là những phương pháp thông dụng hơn.



- Những kỹ thuật mà chúng tôi nêu trên giúp tăng thêm khả năng uốn được những cành cây to, tuy vậy, nếu cành cây quá to hoặc quá giòn thì cũng không thể nắn chúng theo vị trí mà mình mong muốn được, mà trước tiên bạn phải làm yếu cấu trúc của nó đã, việc này sẽ hỗ trợ cho các dây chằng hay dây quấn hoạt động được tốt hơn. Phần tiếp theo sẽ đề cập đến kỹ thuật tạo một mấu hình chữ V trên cành cây.



3. Kỹ thuật làm yếu cành trước khi uốn
- Cũng giống như thân cây, cành cây chứa những lớp tế bào sống (nằm ngay dưới vỏ cây) bao quanh phần lõi gỗ “chết” bên trong. Nhiệm vụ của phần lõi này là giữ sức và cấu trúc của cây.



- Cấu trúc này hỗ trợ các tế bào sống, giữ cho tán lá nằm đúng vị trí và đủ sức nâng đỡ sao cho cành cây không bị ngã đổ ngay cả khi bị tuyết phủ đầy hay bị những cơn gió vùi dập.



- Phần lõi gồm các tế bào gỗ chết kể trên chính là phần mà chúng ta cần phải tác động đi khi uốn cây. Chúng ta cũng có thể làm yếu hay lấy đi phần lõi gỗ này để làm cho các phần tế bào sống xung quanh yếu đi, và rồi cả cành cây cũng thế.



- Có nhiều kỹ thuật làm yếu cành để uốn cây, đó là những kỹ thuật “cao cấp” và chỉ những người nào chăm sóc được cây thật tỉ mỉ và có kinh nghiệm mới có thể thực hành được, vì nó cũng có mặt nguy hiểm và có thể dẫn đến chết cành nếu không được chăm tốt.



- “Khắc mấu hình chữ V”, “khoét lỗ”, “chẻ cành”, và “tạo rãnh” phải được thực hiện trên những thân cây khỏe mạnh và trên những cành cây sung sức nhất để nó có thể liền lại vết thương và phục hồi sức sau chấn thương. Mặt trái của phương pháp này là, có thể vết thương quá lớn, cây không lành lại nổi, đối với những vết thương như thế, bạn không nên tạo phía trước của cây, thậm chí bạn có thể “ngụy trang” sao cho nó giống hình dạng gỗ mục tự nhiên như “uro” (vết lõm hình lòng chảo) hay “shari” (những đoạn lõi gỗ tự nhiên thường thấy trên các loại cây có quả hình nón như cây thông và cây tùng cối).



4. Xác định thời điểm uốn
- Một số người đam mê nghệ thuật bonsai cho rằng nên thực hiện những tác động mạnh lên cây vào mùa đông, khi cây đang ngủ đông, để nhằm mục đích “lừa” chúng, thực chất đó là những ý tưởng sai lầm, và phần nào lệch lạc.



- Nếu thực hiện vào lúc chớm giữa đông, thời kỳ ngủ đông của cây, thì cây sẽ không thể liền vết thương được cho đến khi nó trở lại hoạt động bình thường vào vài tuần hay vài tháng sau đó. Như vậy sẽ làm cho các vết thương cứ bị phơi trần ra và trầm trọng thêm trong một khoảng thời gian quá dài. Do vậy, bạn nên thực hiện những kỹ thuật này vào lúc cây đang phát triển thuận lợi và những nguy hại do thời tiết băng giá gây ra cũng được giảm xuống mức thấp nhất.



- Đối với hầu hết các loài cây thì hoạch định thời điểm thích hợp nhất là vào khoảng cuối hè, hoặc đầu tháng 8, vì ít ra từ lúc đó vẫn còn khoảng 6 tuần nữa thì thời tiết đông giá mới thực sự bắt đầu.



- Vào giữa mùa hè, cây bắt đầu ra lá và chồi non mới, đây là khoảng thời gian phát triển, là lúc cây tràn trề sinh lực nhất. Tiến hành những kỹ thuật trên vào thời điểm từ giữa đến cuối hè sẽ giúp cây phục hồi nhanh nhất, không những giảm thiểu được nguy cơ bị sâu mọt ăn hết chồi non hay bị nhiễm bệnh mà còn không cản trở quá trình phát triển của cây.



- Đối với những loài cây có nhựa, có quả hình nón như cây thông hay cây gỗ vân sam, thời điểm thích hợp nhất để uốn cây là vào cuối hè, khi lượng nhựa lưu thông giảm đi. Còn đối với những loài sớm rụng lá, có khả năng sẽ chảy nhựa nhiều, bạn không nên uốn vào đầu hay giữa mùa xuân trước khi cây rụng lá và mọc chồi non.



- Tốt hơn hết, luôn dùng dây đồng và/hoặc dây chằng để uốn trước khi sử dụng những kỹ thuật này



5. Một số kỹ thuật uốn cây
a) Kỹ thuật khắc hình chữ V
- Khắc hình chữ V đơn giản chỉ là cắt ngang bề rộng của thân cây, rồi uốn nó theo vị trí mà mình mong muốn. Đây là một phương pháp uốn nhanh và tác động trực tiếp vào chỗ cần uốn, tuy nhiên, nó có thể gây ra vết chai sần hay phồng rộp ở ngay chỗ khắc chữ V.



- Có thể dùng phương pháp này cho các loài cây sớm rụng lá, hay cây lá rộng, vì dòng nhựa lưu thông của nó không quá chặt chẽ liên tục như các loài cây có quả hình nón (nếu dòng nhựa chạy đến các nhành cây thứ cấp hoặc các tán lá bị đứt giữa chừng thì những chồi hay lá đang phát triển sẽ bị và có nguy cơ bị sâu mọt phá hoại).



- Cần quấn dây hay buộc dây chằng vào cành được uốn để giữ cho cây ở đúng vị trí trong khoảng thời gian nó hồi phục và tạo ra vết chai sần.



- Nên bôi một lớp dầu bôi trơn xung quanh lớp gỗ thượng tầng bị lộ ra đối với những cây thuộc họ có quả hình nón, hoặc dùng bột hồ bôi lên vết cắt cho các loài sớm rụng lá.



- Hai vết cắt hình chữ V được tạo ra ở quãng chia 2/3 chiều dài cành cây được uốn. Nếu vết cắt không đủ sâu thì chỗ uốn sẽ không được gọn gàng và suôn sẻ. Để tạo ra vết cắt hình chữ V, bạn dùng cây cưa mỏng và nên tạo thành hình tam giác để khi uốn, hai mặt bên của vết cắt sẽ gặp nhau khi chúng tạo thành vết chai sần, từ đó vết cắt sẽ ghép lại vào nhau.



- "Phương pháp này cũng rất hữu dụng khi dùng để chỉnh lại góc nơi cành cây bị lìa khỏi thân cây. Đối với trường hợp này, chỉ dùng dây không thì có thể khó mà chỉnh được.



- Có thể tạo vết cắt ở cuối cành, sau đó dùng dây quấn hay dây chằng để kéo cành hướng xuống. Hai cạnh của vết cắt bị kéo sát vào nhau và cuối cùng là liền lại với nhau.



- Nhiều người say mê bonsai thích tạo vết cắt ở phía trên, thay vì dưới chỗ cành giao nhau với thân cây. Cách này sẽ làm vết cắt mở ra và không bị nhìn thấy cho đến khi vết cắt liền sẹo và lấp đầy được chỗ khuyết.



- Về cơ bản thì cả hai cách đều tốt và nên được dùng phù hợp với loài cây được uốn; một số loài hình thành sẹo nhanh để lấp đầy chỗ trống của vết cắt hình chữ V, với các loài này thì nên dùng cách tạo vết cắt ở phía bên dưới, cuối cành.



b) Kỹ thuật tạo rãnh
- Khoét lỗ và tạo rãnh là việc lấy đi phần gỗ trong giữa thân của cành cây mà bạn muốn uốn. Đó có thể là khoét lấy gỗ theo một đường rãnh chạy dọc cành cây, hoặc là tạo ra một cái lỗ để có thể tập trung lực uốn mà không phải chiếm nhiều diện tích trên cành cây.



- Trên đây là hình cây xô thơm (loại này hiếm khi được trồng làm bonsai, nó cũng gần giống như cây hoa oải hương và cây hương thảo). Gỗ của loài cây xô này rất giòn, chiếc cành dài 25cm, đường kính 1 inch này mọc quá thẳng, nó đã từng bị gọi là cái cành “trêu ngươi”, vì chĩa thẳng vào hướng mắt nhìn của người xem.



- Nếu uốn mà chưa tạo rãnh cho nó, cành cây có thể bị gãy. Do đó, người ta tạo một đường rãnh, hay rạch một khía sâu vào thân của cành cây để làm cho nó mỏng hơn, từ đó sẽ dễ uốn hơn. Như các bạn đã thấy trong hình, sau khi tạo rãnh chúng ta có thể quấn dây và uốn cành được.



- Nhưng bạn cũng nên để ý vết thẹo của nó. Trong trường hợp đặc biệt này, cái rãnh trên cành cây có thể không lành lại được, và hiện rõ ra bên ngoài. Tuy nhiên, cành cây này cũng có nhiều vết tích của kỹ thuật “lột vỏ” và “làm chết” rồi, nên nó rãnh này có thể hòa hợp với toàn cảnh nhìn chung của cành cây. Bạn có thể thay thế chỗ rạch rãnh xuống phía bên dưới cành để ít ra nó không được nhìn thấy trực diện từ phía bên ngoài.



c) Kỹ thuật khoét lỗ
- Đối với cành cây táo gai trong hình trên, yêu cầu đưa ra là phải làm yếu cấu trúc của đoạn cành dài và thẳng đuột của nó, sau đó vít đầu cành xuống. Vì đây là cành cụt, do đó ta tránh không nên dùng biện pháp uốn mà phải tạo ra một vết thương dài (như kỹ thuật tạo rãnh), thay vào đó, ta tạo ra một cái lỗ trên cành cây.



- Để che đi vết thương sau khi uốn, người ta tạo một cái lỗ ở phía sau cành cây bằng cách dùng một chiếc máy quay với mũi khoan bào soi nhỏ. Bạn càng lấy được nhiều gỗ bên trong ra càng tốt, miễn là không làm tổn thương đến lớp gỗ thượng tầng là được.



- Sau khi khoan lỗ xong thì có thể dễ dàng uốn được cành cây xuống theo đúng vị trí mong muốn với hai sợi dây chằng.



- Sau khi đã uốn được cành vào đúng vị trí, ta trám đầy lỗ bằng rêu nước rồi lấy dây nhựa đen băng chặt lại. Cách làm này sẽ giúp bảo vệ được vết thương khi mùa đông đến.



d) Kỹ thuật xẻ cành
- Bản chất của kỹ thuật này là việc xẻ đôi một cành cây to để tao thành 2 nửa mỏng hơn, dễ uốn hơn. Tuy nhiên, những người chơi bonsai thường ít áp dụng kỹ thuật này vì hiệu ứng thẩm mỹ của nó. Sau khi viết thương đã liền lại trên cành cây luôn có xu hướng tạo thành vệt chai sần không đẹp mắt và thiếu tự nhiên.



- Đây là một trường hợp thực tế của một cành cây táo gai, nó đã được dùng cưa xẻ làm đôi và sẵn sàng chờ uốn.



- Tuy nhiên, kỹ thuật xẻ cành cũng khá quan trọng trong nghệ thuật bonsai. Nó rất hữu dụng khi bạn muốn uốn phần sống của một cành hay thân cây khác đi so với cấu trúc của phần lõi gỗ chết bên trong bằng cách dùng cưa hay dụng cụ xẻ cành.



- Những hình ảnh trên đây cho thấy áp dụng kỹ thuật xẻ cành, người ta đã tách được thân cây tùng cối ra xa phần gỗ chết, điều này là không thể làm được nếu chỉ dùng acc1 dụng cụ uốn, nắn thông thường.



6. Một số điểm cần lưu ý
- Những kỹ thuật đã được mô tả trong loạt bài viết về chủ đề này, như: tách chữ V, khoét lỗ, tạo rãnh và xẻ cành..., tất cả đều có nguy cơ gây chết cành to, hoặc thậm chí làm chết cả cây nếu không được thực hiện đúng và có những biện pháp chăm sóc thích hợp sau khi thực hiện. Đây có thể gọi là những kỹ thuật cao cấp, và chỉ nên làm đối với các cây và cành đang khỏe mạnh, sung sức để chúng có thể chịu được những tổn thương nặng.



- Hãy bảo vệ vết thương bằng cách mà bạn vẫn hay dùng, hoặc có thể bọc vết thương lại (hiện đang có những tranh cãi về việc liệu có nên bọc hết tất cả hay chỉ vài vết thương thôi). Theo kinh nghiệm của một số người chơi bonsai thì có thể dùng dầu bôi đặc chiết xuất từ dầu hỏa, hoặc dùng dầu hôi để bôi vào những vết thương hở ở lớp gỗ thượng tầng.



- Khi bạn khoét lỗ hay tạo rãnh, nhớ chỉ lấy đi phần gỗ vừa đủ để uốn mà không cần phải xẻ cành, hoặc nếu không thì bạn có thể lấy đi phần vỏ cây hay lớp vỏ thượng tầng xung quanh, nhưng nhớ là chừa gỗ lại để đảm bảo cành cây vẫn đủ khỏe để đỡ lấy sức nặng của nó. Hãy kiểm tra độ dẻo của cây song song với quá trình khoét lấy gỗ. Nếu trong quá trình lấy gỗ từ giữa thân cây mà bạn thấy phần gỗ thượng tầng màu xanh thì có nghĩa là bạn đã khoan vào quá sâu rồi đấy. Bạn nên bịt kín chỗ đó lại, rồi tiến hành lấy gỗ ở chỗ khác.



- Thời điểm thích hợp nhất để thực hiện những kỹ thuật đã mô tả ở loạt bài viết này là vào cuối hè, hoặc đầu tháng 8 khi cái nóng của mùa hè đã đi hết, và như vậy thì sẽ có nhiều thời gian hơn cho vết thương bắt đầu liền lại trước khi mùa đông băng giá đến. Hãy làm trong thời gian cây còn hoạt động (còn nhiều lá), cây sẽ có thể ghi nhận ngay lập tức các tác động và có phản ứng kịp thời.



- Hãy tạm thời tạo rãnh, khoét lỗ hay xẻ cành trước, rồi vài tuần hay vài tháng sau hãy tiến hành uốn cây nếu chưa có kinh nghiệm.



- Uốn cây bằng dây quấn, dây chằng hay các loại dây khác là cách dễ thực hiện nhất va mang lại hiệu quả tốt nhất.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Những dấu hiệu bệnh trắng mang – trắng gan ở cá Tra

Bệnh trắng mang – trắng gan ở cá Tra




Trong vài năm gần đây, bệnh “trắng mang - trắng gan” gây thiệt hại nghiêm trọng trên cá tra và chưa có thuốc điều trị hiệu quả. Một số nghiên cứu bước đầu của Cty Vemedim nhằm đưa ra biện pháp phòng bệnh và giảm tỉ lệ chết bước đầu cho kết quả khả quan.





1. Dấu hiệu bệnh
Vi cá mất màu, mang cá chuyển từ dần thành trắng nhạt Cá bơi lờ đờ cập bờ và thường tập trung nơi có nước chảy, cá chết nhanh khi vớt khỏi ao. Mang cá bình thường có màu đỏ thắm vì là nơi tập trung dày đặc của mạch máu để thực hiện quá trình vận chuyển và trao đổi khí trong hô hấp. Sự mất màu và chuyển sang màu trắng nhạt ở mang là do hồng cầu đã biến mất, sụt giảm nghiêm trọng hay không có huyết sắc tố.



2. Biểu hiện bệnh





Xoang bụng và tất cả nội quan đều có màu vàng rơm hay vàng nhạt. Túi mật sưng chứa đầy dịch vàng trong. Tỳ tạng cá teo nhỏ, dạ dày và ruột không có thức ăn. Ngoài tỳ tạng teo nhỏ, các nội quan khác không thể hiện thương tổn ngoài việc đổi màu vàng nhợt nhạt biểu hiện của sự thiếu huyết sắc tố Hemoglobin.



3. Xác định tác nhân gây bệnh
Bằng các phương pháp chẩn đoán thường qui, thực hiện trên 1.000 mẫu cá tại các ao nuôi có bệnh trắng mang - trắng gan. Kết quả cho thấy:
- Không phát hiện nội ký sinh (giun sán) trong tất cả mẫu cá xét nghiệm và chỉ khoảng 10% cá nhiễm sán lá mang (Gyrodactylus) với mật độ thấp 1 - 2 sán/cung mang. Đây cũng là tỉ lệ nhiễm bình thường của cá trong điều kiện nuôi ao thâm canh



- Không phát hiện được vi khuẩn qua nuôi cấy phân lập bệnh phẩm (gan, thận) trên Nutrient Agar (NA) và Tryptone Soya Agar (TSA).



- Quan sát tiêu bản vi thể mẫu gan, thận cá bệnh và cá khoẻ trong cùng một ao nuôi không có sự khác biệt ở cá bệnh và cá khoẻ, trong khi đó biến đổi mô học là yếu tố quan trọng trong bệnh nhiễm khuẩn.



- Công thức máu có sự thay đổi bất thường: Mật số hồng cầu giảm chỉ còn 1,05 x 105 tế bào/mm3 (khoảng 5% so cá khoẻ), trong máu có sự hiện diện của những dạng hồng cầu bất thường như hồng cầu tiền trưởng thành, hồng cầu không nhân và hồng cầu có nhân phân thuỳ. Sự xuất hiện của những hồng cầu bất thường cho thấy có sự hư tổn ở cơ quan tạo máu. Qua điều tra các trang trại từng nhiễm bệnh trắng mang trắng gan. Kết quả cho thấy một số đặc điểm về dịch tễ học của bệnh như:



- Bệnh xảy ra chủ yếu trên cá giống và cá dưới 3 tháng tuổi (cá từ 1 – 3 phân) và thường theo sau một bệnh nhiễm khuẩn: bệnh gan thận mủ, xuất huyết….



- Bệnh chết càng tăng khi sử dụng hoá chất xử lý nước, diệt ngoại ký sinh, nhất là formol.



- Các thuốc kháng sinh điều trị không hiệu quả. Từ kết quả xét nghiệm và điều tra có thể nhận thấy hiện tượng “trắng mang - trắng gan” không do một tác nhân gây bệnh rõ ràng (vi khuẩn, virus hay ký sinh trùng) mà có thể là hậu quả kéo theo của một bệnh truyền nhiễm và việc sử dụng kháng sinh liều cao, kéo dài, không đúng qui trình. Để định được chính xác tác nhân gây bệnh còn chờ thời gian nghiên cứu chuyên sâu thêm. Tuy nhiên, từ những nghiên cứu và nhận định bước đầu Cty VEMEDIM và các nhà khoa học – Khoa Thuỷ sản trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu đưa ra một sản phẩm dùng phòng trị “ trắng mang- trắng gan” với tên thương mại LIVERED. Sản phẩm tác động dựa trên sự khôi phục hoạt động của gan, thận, tỳ tạng, tuyến ức nhằm kích thích tạo hồng cầu và gia tăng huyết sắc tố hemoglobin trong tế bào hồng cầu để đảm bảo chức năng vận chuyển và trao đổi oxy . Sản phẩm đã chứng minh được hiệu quả phòng bệnh và điều trị tốt trong nhiều trang trại nuôi cá tra xuất khẩu vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

kỹ thuật trồng hoa Hồng tốt nhất hiện nay

Video Kỹ thuật trồng hoa Hồng

Để cung cấp thêm thông tin cho độc giả về Kỹ thuật trồng hoa hồng chúng tôi xin giới thiệu với độc giả Video Kỹ thuật trồng hoa Hồng.



Video Kỹ thuật trồng hoa Hồng, Nguồn: Đài phát thanh truyền hình VĨnh Long.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Cá Rồng Huyết Long và những điều bà con cần biết

Tìm hiểu về cá Rồng Huyết Long


Huyết long (super red) là loài cá rồng phân bố ở thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia. Hồ Sentarum là một tập hợp gồm vô số những hồ nhỏ ăn thông với nhau bằng hệ thống kinh rạch chằng chịt và đổ ra sông Kapuas.

- Vùng này phủ đầy bùn đất phát sinh từ lá cây và gỗ mục tạo ra môi trường sống hoang dã cho loài cá sơ khai này, dòng nước đen và nguồn thức ăn đa dạng có tác động tích cực lên màu sắc và hình dạng của chúng. Sự đa dạng về môi trường sinh thái này có thể là nguyên nhân tạo ra vô số những đặc điểm phân hoá ở loài huyết long. Chẳng hạn một số cá thể có thân rộng, một số khác có đầu hình muỗng (spoon head), một số có màu rất đỏ hay một số lại có màu nền rất sậm. Nghiên cứu của các nhà khoa học ở trường Đại học Quốc gia Singapore vào năm 2005 trên 41 cá thể huyết long hoang dã cho thấy độ khác biệt về gen giữa các cá thể là khá lớn, điều này chứng tỏ sự tồn tại của những dòng cá huyết long khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không đề cập gì đến đặc điểm bề ngoài của chúng. Việc nghiên cứu xa hơn trong tương lai có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn vì số lượng cá huyết long đang bị suy giảm nghiêm trọng do những biến đổi về môi trường mà chủ yếu là việc khai thác rừng.

- Kích thước: Lớn hơn 90cm ngoài thiên nhiên.

- Phân bố: thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia.

- Yêu cầu nước: Mềm, độ acid vừa phải.

- Nhiệt độ: 24 - 32 độ C.

- Hiện tại huyết long đứng hàng thứ hai sau quá bối về giá cả, huyết long trong quá khứ đã có lúc còn đắt hơn cả quá bối. Thời gian phải chờ đợi, từ 4 - 6 năm, để cho huyết long trưởng thành và ép giống là lý do tại sao huyết long đã quá đắt trong quá khứ. Tuy nhiên, ngày nay, vì các trại cá rồng đang có giấy phép của CITES để nuôi, ép giống và kinh doanh tại Singapore, Maylaysia, và Indonesia đã tạo nên thặng dư và làm chên lệnh cán cân cung va cầu, nên giá thành của huyết long đã phần nào giảm bớt rất nhiều.

- Huyết long thường được biết qua tên phổ thông là huyết long loại 1. Loại này sau khi trưởng thành khoảng đô 3 - 4 năm tuổi hay đôi lúc lâu hơn thì phần nấp mang, vây lưng, hậu môn và đuôi , cùng với các hàng vẩy trên cơ thể sẽ chuyển màu thành màu đỏ rực. Ấn tượng khi thấy một con huyết long, thuần chủng thật to lớn uy nghi và oai vệ bơi lội trong bể quả thật là một hình ảnh khó quên cho nhiều người. Vẻ đẹp của huyết long quá quyến rủ đến độ như bị nghiện cho những người yêu thích chúng được biểu hiện qua bằng chứng là chúng luôn được giới thưởng ngoạn săn lùng để mua.

- Dạng đầu hình viên đạn-bullet head (trái) và dạng đầu hình muỗng-spoon head (bên phải).


- Thực tế, dựa trên màu sắc của chúng, những nhà kinh doanh cá rồng trước đây đã chia huyết long thành hai loại đó là "chili red" phân bố ở vùng phía Nam và "blood red" phân bố ở vùng phía Bắc hồ Sentarum.
+ Chili Red: Cá có màu đỏ tươi, thân rộng và dày, dày đều từ đầu cho đến đuôi... Loại "chili red" có nền xanh "green-based", đầu hình muỗng (spoon head) và đuôi hình thoi. "chili red" có mắt màu đỏ và to. Mắt "chili red" lớn đến nỗi có khi viền ngoài của nó "chạm" đến đầu và hàm dưới
+ Blood red: Cá có màu đỏ sậm, thân dài và mảnh, thuôn về phía đuôi. loại "blood red" có màu đỏ sậm, nền đen nâu "dark-based", đầu hình viên đạn (bullet head) và đuôi hình quạt. loại "blood red" có mắt nhạt màu và nhỏ hơn. Đuôi của "blood red" hình quạt trông đẹp hơn đuôi hình thoi của "chili red".
Hai đặc điểm này phát triển khi cá còn non giúp chúng ta có thể phân biệt được 2 loại cá một cách dễ dàng.

- Huyết long máu có nhiều hơn về số lượng, nên giá cả của chúng cũng vì thế mà rẻ hơn đôi chút so với huyết long ớt. Huyết long ớt khan hiếm hơn về số lượng, nên giá cũng sẽ đắt hơn huyết long máu. Về phần màu sắc đỏ, huyết long máu sẽ lên màu nhanh hơn huyết long ớt, nhanh nhất có thể từ 1 năm và kéo dài cho đến 3 năm. Khả năng lên màu đỏ sớm là lý do tại sao huyết long máu rất được ưa chuộng trong giới chơi cá rồng.

- Dù có khác biệt, cả hai đều chuyển sang màu đỏ thực thụ khi đến tuổi trưởng thành. "Chili red" lên màu chậm hơn 1-2 năm so với "blood red" nhưng màu tuyệt đẹp với loại vảy bản mỏng "thin frame". Quá trình lên màu của cả hai tương tự như nhau. Màu cam thường là màu trung gian trước khi cá chuyển sang màu đỏ. Cá biệt có con đến 8 tuổi mà vẫn nhợt nhạt nhưng bỗng lên màu đỏ rực chỉ trong một thời gian ngắn làm người nuôi ngỡ ngàng. Việc đánh giá về huyết long đôi khi gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều nỗ lực và kiên nhẫn để phát hiện ra tiềm năng thực sự của một con huyết long non.

- Ví dụ về các loại vảy ở loài huyết long


1. Nền xanh, bản mỏng (blue-based, thin frame).
2. Nền đậm, bản dày (dark-based, thick frame).
3. Dạng đặc biệt khi màu nền hầu như biến mất, toàn bộ mặt vảy phủ màu đỏ.

- "Chili red" và "blood red" là tên gọi của các loại cá rồnghoang dã. Nên nhớ rằng các cá thể hoang dã bị cấm mua bán vì chúng là động vật cần được bảo vệ. Các trang trại cá cảnh thường lai chéo hai loại cá này với nhau để cho ra giống huyết long "super red", cho nên trên thực tế, dòng huyết long thuần chủng đúng nghĩa không hề tồn tại trên thị trường cá cảnh cho dù có những cá thể mang đặc điểm của "chili red" hay "blood red".

- Cá huyết long chất lượng cao thường có màu vây đỏ sậm và đều ngay từ khi còn nhỏ. Chúng còn có màu sắc nổi bật và lưng thật sậm màu. Những con cá đẹp cũng có nhiều màu ánh kim trên thân. Đặc điểm này hiện rõ khi quan sát cá dưới ánh sáng tự nhiên. Khi cá đạt 25 - 30 cm, nắp mang và viền vảy phải có màu tím hay đỏ nâu, còn nếu chỉ hanh vàng là không đạt.

- Huyết long loại hai như "Banjar red" cũng thường được bán lẫn lộn như huyết long chính hiệu nhưng có thể nhận biết vì vảy và vây của chúng luôn nhạt màu hơn. Những loại huyết long thương mại khác như "golden red" và "orange red" cũng là cá lai và không bao giờ đạt đến màu đỏ thực sự. Tuy nhiên, nếu cá kém chất lượng được cho ăn chất lên màu thì rất khó phân biệt vì chúng cũng đỏ rực như huyết long. Người nuôi cá không nên ham rẻ, tốt nhất là mua cá từ nguồn cung cấp uy tín, cá có gắn chip và cấp giấy chứng nhận đàng hoàng.

- Như tất cả các giống loại cá rồng Á Châu, trại cá cũng có những tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất của huyết long. Ví dụ, một con huyết long có tên gọi là Ruby red (huyết long xanh/tím), có vây , môi, cặp râu thật đậm đỏ, và hàng vẩy màu xanh đậm sẽ có giá rất cao ở kích thước từ 12 - 15cm. Loại Ruby Red này giá còn đắt hơn cả loại quá bối hạng trung bình. Vì thế, đối với những con huyết long có phẩm chất thuộc hàng tuyệt phẩm, sẽ nhìn đẹp, và đắt giá hơn bất kỳ con quá bối nào. Tương tự như thê, giống loại kim long hồng vỹ nếu vì vài đặc điểm hiếm quý và đẹp nào cũng có thể đắt giá hơn huyết long. Sự đột biến của genes, và kết quả của ép giống đồng huyết thường tạo nên những bất ngờ tuyệt vời.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm

Mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm




I. Mô hình nuôi trong giai đặt ở ao đất
1. Mùa vụ





Mùa vụ nuôi phụ thuộc vào việc sản xuất con giống. Nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thông thường nguồn cá giống xuất hiện tập trung vào tháng 7 – 8. Do vậy, mùa vụ nuôi cũng tập trung vào những tháng này.



2. Kích cỡ giống và mật độ nuôi
Cần chọn lựa giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị sây sát, không bị mất nhớt. Cá giống cần đạt kích cỡ 20 – 30g/con. Mật độ thả 70 – 90 con/m2.



3. Thức ăn cho cá
Cá lóc là loài ăn động vật, cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: cá, tép, ếch nhái….Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá quen dần với thức ăn tự chế với nguồn nguyên liệu là cá tạp, tấm, cám, bắp….hoặc thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn cho cá có thể định lượng theo bảng sau:





4. Cho cá ăn
Trong giai đoạn đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn, khi cá lớn thức ăn không cần xay nhuyễn và được cung cấp cho cá trong giai hoặc ao nuôi qua sàn ăn.





5. Chăm sóc và quản lý
Việc chăm sóc và quản lý được tiến hành thường xuyên như kiểm tra hệ thống dây- lưới, theo dõi hoạt động của cá, vệ sinh giai….



II. Mô hình nuôi trong ao đất
1. Chuẩn bị ao
Diện tích ao nuôi trung bình từ 100 – 1.000m2. Ao nuôi được cải tạo và vệ sinh trước khi nuôi. Dùng lưới hoặc đăng tre chắn xung quanh để phòng tránh cá nhảy ra ngoài. Mật độ thả cá 30 – 50 con/m2.



2. Cho cá ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất tương tự như thức ăn cho cá nuôi trong giai. Thức ăn được đặt trong sàn cho cá ăn.



III. Mô hình nuôi trên bể lót bạt
1. Chuẩn bị bể
Tùy theo diện tích của mỗi hộ gia đình mà xây dựng bể có quy mô khác nhau.
- Vị trí đặt bể nên bố trí gần sông để thuận tiện cho việc thay nước, nên xây dựng bể lót bạt để chi phí đầu tư thấp và thuận tiện cho việc thay đổi thiết kế sau này nhất là chuyển đổi đối tượng nuôi khác.



- Bể thường được xây dựng theo hình chữ nhật, chiều cao bể khoảng 1,2m. Dùng tràm để làm các trụ, rào đăng tre xung quanh, trải bạt nhựa màu tối để tạo điều kiện sống gần giống như tự nhiên và sử dụng lưới cước rào trên mặt bể để tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nên thiết kế sao cho nghiêng về một phía để dễ dàng tháo nước. Đặt cống thoát nước sát đáy bể và đầu cống có lưới chắn để không cho cá ra ngoài.



- Mực nước trung bình trong bể là từ 0,8 – 1m.



- Cần có hệ thống máy bơm nước để cung cấp nước khi cần thay nước.



2. Cho ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất giống như thức ăn cho cá nuôi trong giai và ao đất. Thức ăn được đặt trong sàn ho cá ăn.



3. Xử lý môi trường nước trong bể nuôi
Cá lóc nuôi trên bể môi trường nước rất dễ nhiễm bẩn cần được thay nước thường xuyên. Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước sẽ ít hơn so với cá lớn. Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3. Trong quá trình nuôi nếu có hiện tượng nhiễm nấm, ký sinh trùng nên dùng các hóa chất diệt ký sinh trùng như Fresh water ( Cty Vemedim, Cần Thơ)….liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất để xử lý rất hiệu quả.



IV. Mô hình nuôi ghép
1. Nuôi ghép với cá Rô phi
Dùng cá Rô phi làm thức ăn cho cá lóc. Mật độ thả 0,5 – 1 con/m2. Qua 4 tháng nuôi cá giống cỡ 80 – 100g/con đạt trung bình 350g/con. Tính trung bình cứ 4kg cá Rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.



2. Nuôi ghép với cá nuôi khác
Có thể nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép,.....Thức ăn và liều lượng cho ăn tuỳ thuộc vào mật độ nuôi cũng như tỉ lệ ghép với loài cá khác sao cho đảm bảo cá lóc tăng trưởng tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá khác.



VI. Phòng và trị bệnh cho cá
- Cá ương giai đoạn dưới 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng Để phòng bệnh cần định kỳ sát trùng ao nuôi 15 ngày/lần. Sử dụng vôi bột với liều lượng 3 – 4 kg/100m3, vôi được hòa tan, lóng trong và lấy nước tạt khắp ao hoặc sử dụng Fresh water (Cty Vemedim Cần Thơ).



- Cá ương giai đoạn trên 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột do giai đoạn này cá chuyển thức ăn. Rửa thức ăn bằng muối hột, trộn thuốc Sunfadimezin: 2g + Vitamine C: 1g /1kg thức ăn cho cá ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.



- Cá giai đoạn nuôi thịt: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. Sử dụng Sunfadimezin: 20g + Oxytetra 5g/100kg cá. Dùng liên tục trong 6 ngày. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.



VII. Thu hoạch
- Sau 5 – 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 0,8Kg – 1kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt để hạn chế sây sát.



- Tháo nước ra chỉ còn 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Sau đó tát cạn để thu họch toàn bộ.

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

Cá giống Thát Lát Cườm Cần Thơ giá rẻ

Trang trại chúng tôi chuyên cung cấp giống cá Thát Lát Cườm các loại theo Bảng báo giá sau (giá giống áp dụng từ ngày 28 tháng 09 năm 2014 đến khi có thông báo giá mới):

- Đối với cá lồng 10 (cá dài 7 - 8 cm):
+ Từ 5.000 - 20.000 con giá 2.200 đ/con;
+ Từ 20.001 - 30.000 con giá 2.100 đ/con;
+ Từ hơn 30.001 con giá 2.000 đ/con.

- Đối với cá lồng 12 (cá dài 9 - 10 cm):
+ Từ 5.000 - 20.000 con giá 2.700 đ/con;
+ Từ 20.001 - 30.000 con giá 2.600 đ/con;
+ Từ hơn 30.001 con giá 2.400 đ/con.

- Đối với cá lồng 14 (cá dài 11 - 12 cm):
+ Từ 5.000 - 20.000 con giá 3.000 đ/con;
+ Từ 20.001 - 30.000 con giá 2.900 đ/con;
+ Từ hơn 30.001 con giá 2.800 đ/con.

- Ngoài ra chúng tôi nhận cung cấp giống lâu dài cho Trại giống, cơ sở nuôi với quy mô lớn. Thông tin chi tiết liên hệ anh Tâm: 0978786767.

- Địa chỉ: Quốc lộ 91B, Tổ  5, Khu vực 6, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, tp. Cần Thơ.



Trại chúng tôi khuyến khích bà con đến xem trước khi bắt.