Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Tìm hiểu về cá La Hán

Tìm hiểu về cá La Hán

Cá La Hán xuất hiện lần đầu ở thị trường cá cảnh Malaysia vào khoảng giữa của thập kỷ 1990-2000. Ban đầu, người ta muốn khám phá bí quyết lai tạo cá hồng két (red parrot) của người Đài Loan nên mới đem một số loài cichlid thuần chủng của châu Mỹ lai tạo với nhau với thành phần chủ yếu bao gồm Midas (Amphilophus citrinellus).





- Cá La Hán xuất hiện lần đầu ở thị trường cá cảnh Malaysia vào khoảng giữa của thập kỷ 1990 - 2000. Ban đầu, người ta muốn khám phá bí quyết lai tạo cá hồng két (red parrot) của người Đài Loan nên mới đem một số loài cichlid thuần chủng của châu Mỹ lai tạo với nhau với thành phần chủ yếu bao gồm Midas (Amphilophus citrinellus), Trimac hay Three-spot (Amphilophus trimaculatus), Red-terror (Cichlasoma festae), Red-head (Vieja synspilus) và cả cá hồng két nữa, tuy thực tế chỉ có nhà lai tạo mới biết đích xác những thành phần lai tạo còn không thì chỉ là phỏng đoán mà thôi. Kết quả ra sao chắc mọi người đã rõ, người ta không thể lai tạo được cá hồng két như dự tính lúc ban đầu, mà lại cho ra đời... cá La Hán. Loại cá lai này mang một số đặc điểm của các loài thuần chủng kể trên nhưng nổi bật nhất là cái đầu to và hàng chấm đen trên thân mình; và rồi chúng đã nhanh chóng tạo ra một trào lưu nuôi cá lan rộng trên toàn thế giới.



- Về tên gọi, do các nhà lai tạo đã tập trung vào việc tạo ra các cá thể có đầu to gù như đầu của các vị La Hán nên người ta mới lấy tên các vị này mà đặt tên cho cá. Còn các tên Hoa La Hán hay flowerhorn có lẽ ám chỉ đến hàng chấm đen chạy dọc theo mình cá, mà nếu nhìn từ xa thì chúng giống như một nhánh hoa trong các bức tranh thủy mặc.



- Về hình dáng, cá La Hán thời kỳ đầu có hình dáng tương tự với loài Trimac (bụng đỏ, mắt đỏ, có chấm trên đầu và thân, miệng móm) nhưng loài này lại có dạng đầu đặc trưng là đầu “xương” cho nên tôi tin là những cá thể La Hán đầu “hơi” được di truyền từ loài Midas. Midas được giới chơi cichlid Âu Mỹ nuôi làm cảnh mấy chục năm nay rồi và họ đã tuyển chọn được rất nhiều cá thể có đầu to đến mức không thể tin nổi, do đó không có lý do gì mà người ta lại không lấy chúng làm “chất liệu” cho việc lai tạo nên cá La Hán.





- Có lẽ, ở vào một thời điểm nào đó lúc ban đầu, một số nhà lai tạo cố tình lai tạo cá La Hán với các chấm đen đặc trưng kể trên dù cũng có vài ngoại lệ được chấp nhận như Hoàng Kim, hay là dạng La Hán có thân cực ngắn giống như Hồng Két nhưng không được thị trường ưa chuộng lắm. Sau này, khi thị trường phát triển và có thêm nhiều nhà lai tạo tham gia vào lãnh vực này thì cùng với thời gian, nhiều dạng cá La Hán mới nối tiếp nhau ra đời như Trân Châu, Kim Hoa, Khỉ đỏ, Kamfa… mà một số trong chúng có rất ít chấm đen hay không hề có chấm đen nào. Vảy trân châu cũng có thể xuất hiện trên toàn thân cá chớ không giới hạn ở vùng xung quanh chấm đen. Đến đây thì đành chịu không thể đoán được cá La Hán có quan hệ với loài thuần chủng nào vì có hàng trăm loài cichlid ở Trung Mỹ có châu, nó là đặc điểm rất phổ biến, mà cũng chính vì nó mà người ta yêu thích cichlid và nuôi chúng làm cảnh. Chỉ có thể nói rằng, một số Kamfa có châu tương tự như loài Texas (Herichthys carpintis) và một số cá thể sau này có màu sắc và hình dáng tương tự như các loài ở chi Vieja và Paratheraps mà thôi. Nếu chấm đen đã từng là chuẩn mực để phân loại cá La Hán thì ngày nay, người ta chỉ nói nhiều về đầu hay có thêm châu thì càng tốt mà hầu như bỏ qua tiêu chí về chấm đen; hay nói theo cách khác, trong thời điểm hiện nay, không tồn tại một chuẩn mực cụ thể nào cho cá La Hán cả.



- Mặt khác, theo lời một nhà lai tạo thì người ta lai cá La Hán với bất kỳ cá thể thuần chủng nào có các đặc điểm di truyền mong muốn, do đó mà việc xác lập các dòng cá La Hán là điều hầu như chỉ có tính tương đối, tức là chỉ xét trên các đặc điểm bề ngoài; thậm chí có nhiều cá thể tuy trông tương tự nhưng lại chẳng có quan hệ gì về mặt huyết thống. Bởi vậy mà việc xác định và phân loại các dòng cá La Hán là việc làm hoàn toàn vô vọng và vô nghĩa. Tự cái tên cá La Hán đã đủ để nói lên tất cả về các cá thể lai hỗn loạn này rồi.



- Phong trào nuôi cá La Hán lên đến đỉnh điểm vào năm 2003 khi một con cá La Hán có thể bán ra thị trường Singapore với giá nhiều ngàn đô la kéo theo rất nhiều người đầu tư vào thị trường siêu lợi nhuận này. Kết quả là “cung” có quá nhiều so với “cầu” của thị trường làm cho nhiều nhà đầu tư bị phá sản và “sản phẩm” bị tống ra hệ thống kênh rạch ở Malaysia gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái ở đó.



- Dù đây là một bước lùi nhưng nó không có nghĩa là phong trào sẽ đi xuống mà chỉ là lời cảnh báo trước những cuồng nhiệt thái quá vượt lên trên giá trị thực sự của con cá La Hán. Thực tế, phong trào vẫn đang phát triển một cách mạnh mẽ về cả về bề rộng lẫn bề sâu; bằng chứng là cái tên “cá La Hán” đã trở nên quen thuộc trên cửa miệng của nhiều người và có rất nhiều gia đình đặt hồ nuôi cá La Hán ở những nơi trang trọng như phòng khách. Có rất nhiều "giống" La Hán mới xuất hiện ngoài thị trường còn trên các diễn đàn cá cảnh thì cá La Hán là chủ đề được bàn luận sôi nổi nhất. Xét trên khía cạnh cá cảnh thì chưa từng có loài cá nào lại có sức hấp dẫn mạnh mẽ đến như vậy.



- Ngày nay, cá La Hán hiện diện ở khắp nơi trong vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và châu Á như Trung Quốc và Nhật Bản. Cá La Hán cũng xuất hiện ở cả châu Âu và châu Mỹ, nhất là trong các cộng đồng người châu Á sống ở đó. Mặc dù những con cá đẹp được tuyển chọn kỹ vẫn có giá rất đắt nhưng với một vài trăm ngàn bạn cũng có thể sở hữu được một chú cá cũng khá đẹp rồi. Ngoài ra, người ta nuôi cá này không chỉ vì vẻ đẹp hay hình dáng ngộ nghĩnh của chúng mà còn để cầu tài.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Video Kỹ thuật nuôi Thỏ sinh sản

Video Kỹ thuật nuôi Thỏ sinh sản


Để giúp độc giả có thêm kinh nghiệm trong kỹ thuật nuôi thỏ sinh sản chúng tôi xin giới thiệu Video Kỹ thuật nuôi thỏ sinh sản đến với độc giả.



Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Cách phòng trị một số bệnh trên cây có Múi

Cách phòng trị một số bệnh trên cây có Múi




Hiện nay nhóm cây có múi được trồng khá phổ biến với nhiều chủng loại phong phú, nhất là bưởi Da xanh là loại nông sản có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, sâu bệnh trên cây có múi là vấn đề quan tâm của nhà vườn, trong đó, bệnh ghẻ nhám và bệnh loét là hai bệnh rất phổ biến đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và phầm chất trái.



1. Bệnh ghẻ nhám
- Bệnh ghẻ nhám do nấm Elsinoe fawcetti gây ra. Bệnh gây hại trên cành non, trái non và đọt non. Trên lá, vết bệnh đầu tiên là những chấm nhỏ mất màu, trong mờ nhô ra ở mặt dưới lá, sau đó biến thành các mụn nhỏ như mụn ghẻ, màu nâu, lá bệnh bị cong ngược về một phía, vặn vẹo và biến dạng. Nếu bị nặng là vàng và rụng sớm. Bệnh ghẻ nhám gây hại trên trái làm vỏ trái nổi nhiều gai sần sùi, màu nâu xám, rời rạc hoặc nối lại thành mảng lớn bất dạng (phân biệt vỏ trái bị nhện hại thì không nổi gai). Trên cành, vết bệnh cũng nhô lồi lên như trên lá, cành bị sần sùi có các vẩy màu vàng, cành non có thể bị khô chết. Tùy theo sự sinh trưởng của lá, vết bệnh mở rộng và hóa bần (vết bệnh nổi lên là do mô phát triển không bình thường gây ra bởi tác động của một số chất hóa học của nấm ký sinh tiết ra, còn mô hóa bần là phản ứng tự vệ của ký chủ chống lại nấm ký sinh). Vết bệnh trên trái chanh và cam sành thường nhô cao hơn trái cam mật.





- Nấm bệnh lưu tồn chủ yếu trên lá và cành non đã nhiễm bệnh, sau đó theo gió và nước mưa sẽ lây lan qua những lá mới. Bệnh ghẻ nhám phát sinh và phát triển mạnh trong mùa mưa; tấn công giai đoạn cây ra đọt non, cành non hoặc trái non. Nấm xâm nhập trực tiếp hoặc qua vết thương, sau khi xâm nhập 3 - 10 ngày có thể hình thành vết bệnh. Nhiệt độ cao (>28 độ C) là yếu tố kiềm hãm bệnh. Bệnh phát sinh nhiều trên các vườn cây thiếu chăm sóc. Bệnh gây hại phổ biến nhất trên chanh, cam mật, cam xoàn và cam sành.



2. Bệnh loét lá
- Bệnh loét trên lá là bệnh khá phổ biến trên cây có múi mà nông dân thường nhầm lẫn với bệnh ghẻ. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng ướt, màu xanh tối, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô lên trên mặt lá hay vỏ trái. Kích thước vết bệnh thay đổi tuỳ theo loại cây, từ 1 - 2 mm trên quít, 3 - 5 mm trên cam mật và hơn 10 mm trên cam sành, bưởi. Chung quanh vết bệnh trên lá có quầng màu vàng lớn nhỏ tuỳ loại cây, bề mặt vết bệnh sần sùi. Trên trái, vết bệnh tương tự như trên lá nhưng khó thấy quầng vàng xung quanh. Bệnh nặng các vết bệnh liên kết lại với nhau thành từ mãng lớn và bất dạng, đặc biệt là bệnh nhiễm theo các vết đục của sâu vẽ bùa. Bệnh loét thể hiện trên cả hai mặt lá. Bệnh gây hại ở vỏ trái làm giảm giá trị thương phẩm, phần thịt của múi trái có thể bị chai, trong điều kiện ẩm độ cao trái bệnh bị nứt chảy nhựa cuối cùng trái vàng và rụng đi. Cành non cũng thường bị nhiễm nặng, các đốm sần sùi đóng dày đặc làm khô chết cành.





- Bệnh loét do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv.citri (tên củ là Xanthomonas campestris pv.citri) gây hại. Vi khuẩn có thể xâm nhiễm qua vết thương hay khí khổng ở các bộ phận của cây. Lá, cành non, trái thường bị nhiễm qua khí khổng khi có sương hay mưa làm ướt vết bệnh, vi khuẩn trong vết bệnh sẽ ứa ra và từ đó gió, nước mưa, côn trùng (sâu vẽ bùa) sẽ làm lây lan bệnh.



3. Biện pháp phòng trị
- Tránh trồng cây con bị bệnh.



- Không trồng mật độ quá dày, thường xuyên vệ sinh vườn, tỉa cành tạo tán cho vườn cây thông thoáng.



- Vườn ươm, vườn trồng phải cao ráo, tránh đọng nước.



- Cắt bỏ cành lá bệnh và mang ra khỏi vườn tiêu hủy để hạn chế mầm bệnh lây lan.



- Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục. Bón phân cân đối hợp lý theo từng giai đoạn để tránh ra đọt non liên tục. Giảm lượng phân đạm bón cho cây và ngưng phun phân bón lá lúc cây đang bệnh.



- Khi trong vườn có bệnh xuất hiện, không nên tưới nước thẳng lên tán cây sẽ làm cho mầm bệnh lây lan mạnh, chỉ tưới vào gốc cây và không nên tưới đẫm nước.



- Đối với bệnh ghẻ, sử dụng các loại thuốc gốc đồng như: Funguran, COC 85, Norshield 86.2 WG,… phun giai đoạn chồi non mới nhú hoặc vừa tượng trái. Nếu áp lực nguồn bệnh quá cao, nên phun các loại thuốc như: Benomyl 50WP, Plant 50WP,… phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 10 ngày.



- Đối với bệnh loét, phòng trị bệnh bằng các loại thuốc như Kasuran 50 WP, New Kasuran 16,6 WP, Kasumin 2L, Starner 20 WP.



* Lưu ý: Phải đảm bảo thời gian cách ly để an toàn sức khỏe người tiêu dùng.

Bệnh chết ngược ở Ca Cao

Bệnh chết ngược ở Ca Cao


Trong những năm gần đây, mô hình trồng dừa xen ca cao ngày được nông dân áp dụng rộng rải nhằm nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích. Đến cuối năm 2011, tỉnh Bến Tre có diện tích trồng ca cao khoảng 10 nghìn ha, trong đó diện tích dừa xen ca cao chiếm đa số. Song song với việc gia tăng diện tích trồng, tình hình dịch hại trên cây ca cao cũng phát triển theo, với những sâu bệnh phổ biến như: bọ xít muỗi, rầy mềm, bệnh thối trái, trong đó bệnh chết ngược đang gây thiệt hại phổ biến làm ảnh hưởng đến năng suất của nhà vườn trồng ca cao.



1. Triệu chứng bệnh
- Bệnh chết ngược (Vascular Streak Dieback) tác nhân do nấm Oncobasidium theobroma gây ra. Bệnh lây lan rất nhanh vì nấm phát tán bằng bào tử qua con đường gió. Nấm xâm nhiễm mạnh vào mùa mưa, nhưng biểu hiện triệu chứng bệnh vào mùa nắng do thời gian ủ bệnh khá dài 8 – 16 tuần. Bệnh gây hại trên hầu hết các bộ phận của cây như trên lá già, lá non, cành, thân, trong mạch dẫn. Triệu chứng đặc trưng và điển hình tương đối dễ nhận biết như:



- Trên lá: những đốm tròn màu xanh xuất hiện từ cuống lá. Lá có biểu hiện bệnh thường nằm ở phần giữa hoặc ở phần gốc cành. Khi bệnh nặng, lá bị cháy từ phần đầu và mép vào cuống và gân chính.





- Trên thân: những nốt sần sùi như da cóc.



- Trong mạch dẫn: Lột vỏ hoặc chẻ dọc đoạn cành nhiễm bệnh thấy có những sọc đen. Các bó mạch tại sẹo lá thâm đen nên khi cắt ngang bề mặt thấy có 1- 3 đốm đen tương ứng với 3 bó mạch. Đây là triệu chứng thể hiện rỏ nhất của bệnh chết ngược. Trường hợp nặng có thể thối toàn bộ thân trong, làm cành bị khô và chết ngược từ ngoài vào.





- Cây ra tược non nhiều hơn bình thường.



2. Biện pháp phòng trị
- Sử dụng giống kháng.



- Tỉa cành tạo vườn thông thoáng đặc biệt trong mùa mưa.



- Tỉa bỏ cành bệnh cách nơi có triệu chứng bệnh khoảng 30cm về phía gốc.



- Khi điều kiện mưa nhiều, độ ẩm không khí cao tiến hành phun ngừa bằng các loại thuốc có hoạt chất Triadimenol (Bayfidan) nên phun vào sáng sớm và phun ướt đều lá non khi mỗi đợt ra lá non.



- Khi thể hiện triệu chứng bệnh có thể sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Propiconazole, Propiconazole + Tebuconazole, (Tilt, Tilt super) quét vào thân hoặc phun ướt đẩm thân cành, tược non liên tục 4 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Kỹ thuật ghép Mai nhiều màu

Kỹ thuật ghép Mai nhiều màu




Trong dân gian hiện nay có khá nhiều loại mai đẹp như Bạch Mai (hoa trắng), Hồng Mai (hoa vàng hồng), Thanh Mai (hoa màu phớt xanh), Huỳnh Mai (hoa màu vàng). Riêng Huỳnh Mai cũng có nhiều loại từ 9, 12, 24, 60,… đến 150 cánh…





1. Chuẩn bị cây làm gốc ghép
- Có thể dùng gốc mai vàng, mai tứ quý hay mai rừng làm gốc ghép. Khi những cây này có đường kính gốc lớn khoảng 3 - 4cm là có thể làm gốc ghép được. Sau khi đã có cây đủ tiêu chuẩn làm gốc, bạn dùng cưa cắt bỏ phần ngọn (cách mặt đất khoảng 30 - 40cm).



- Cắt xong rồi trồng vào trong chậu, chờ một thời gian gốc mai sẽ đâm tược, chọn để lại 4-5 tược đẹp phân bố đều xung quanh gốc, số còn lại tỉa bỏ. Khi nào tược lớn cỡ chiếc đũa ăn cơm là ghép được (để dễ phân biệt tạm gọi mỗi tược này là một gốc ghép).



2. Chuẩn bị giống để ghép
Trong dân gian hiện nay có khá nhiều loại mai đẹp như Bạch Mai (hoa trắng), Hồng Mai (hoa vàng hồng), Thanh Mai (hoa màu phớt xanh), Huỳnh Mai (hoa màu vàng). Riêng Huỳnh Mai cũng có nhiều loại từ 9, 12, 24, 60,… đến 150 cánh, bạn có thể chọn loại nào tùy theo ý thích của bạn.



3. Kỹ thuật ghép mai nhiều màu
a) Ghép Bo
- Trên gốc ghép (cách thân chính khoảng 2 - 3cm), dùng dao ghép (có mũi nhọn cứng, sắc) rạch 2 đường song song với thân cây, mỗi đường dài khoảng 0,6cm, cách nhau 0,4cm. Sau đó cắt 2 đường nằm ngang nối liền 2 đường dọc lại với nhau thành một hình chữ nhật (phần này gọi là “cửa sổ”).



- Cành để lấy giống có độ lớn tương đương gốc ghép. Trên cành giống chọn mắt mầm còn tốt, sau đó rạch 4 đường xung quanh mắt mầm tạo thành một hình chữ nhật nhỏ hơn “cửa sổ” một chút (phần này gọi là “bo”). Tách “bo” ra khỏi cành, sau đó tách lớp vỏ trên “cửa sổ” rồi đặt “bo” đúng vào vị trí trong”cửa sổ”, ép nhẹ tay cho Bo ôm sát lấy gốc ghép. Dùng dây Nilon quấn vừa đủ chặt chỗ ghép.





- Hai tuần sau kiểm tra nếu thấy Bo còn sống thì cắt bỏ phần trên của gốc ghép, sau khi cắt một thời gian, mắt mầm sẽ phát triển thành chồi và thành cành mai ghép sau này. Cách ghép này tương đối dễ thực hiện được nhiều nghệ nhân áp dụng.



b) Ghép áp
- Về yêu cầu: Phải có một cây (cây làm gốc ghép hoặc cây cần lấy giống) phải được trồng trong chậu để có thể di chuyển được. Trên cây giống, chọn cành có độ lớn tương đương với gốc ghép. Dùng cọc tre gác hoặc kê treo chậu, có cây di chuyển được sát gần với cành trên



- Trên gốc ghép, cách thân chính khoảng 4 - 5cm, lấy dao sắc cắt vạt một miếng dài 2cm, sâu khoảng ¼ độ lớn của cành cho lộ tầng sinh gỗ. trên cành ghép cũng cắt một miếng tương tự, sau đó áp 2 mặt vừa cắt lại với nhau rồi dùng dây Nilon quấn, ép chặt lại. Một tháng sau kiểm tra thấy đã dính thì cắt bỏ phần ngọn của gốc ghép và cắt đứt khoảng 2/3 cành ghép( phía dưới chỗ ghép). Sau 2 tuần, cắt đứt rời hoàn toàn rồi đưa cây vào chỗ mát để dưỡng.



c) Ghép nêm
- Các công việc chuẩn bị ban đầu cũng như trong phần ghép áp. Cắt bỏ phần ngọn của gốc ghép (cách thân chính khoảng 5 - 6cm) rồi dùng dao sắt cắt vạt hai bên chỗ vừa cắt một vết xiên từ dưới lên cũng dài khoảng 1,5 - 2cm và sâu khoảng 1/3 độ lớn của cành sau đó luồn hình nêm đã cắt trên gốc ghép vào bên trong chỗ vừa cắt trên cành ghép. Rồi dùng dây Nilon quấn chặt lại.



- Một tháng sau kiểm tra thấy đã dính thì cắt đứt 1/3 cành ghép phía dưới chỗ ghép, 2 tuần sau cắt đứt hoàn toàn rồi mới đưa cây vào chỗ mát để dưỡng.



d) Ghép khúc cành
- Áp dụng cho gốc ghép đã lớn cỡ ngón tay trở lên. Trên gốc ghép cách thân chính 4 - 5cm, rạch một đường dài 1,5cm song song với thân, trên đầu cắt mọt đường ngang dài 0,8cm (tạo thành hình chữ T).



- Chọn cành ghép lớn cỡ ruột bút bi, cắt một đoạn dài cỡ 3 - 4cm, có chứa 2 - 3cm mắt mầm, cắt bỏ lá, dùng dao cắt vạt xéo một đoạn dài khoảng 1cm ở đầu dưới của đoạn cạnh này. Dùng mũi dao nhọn tách mở 2 bên vỏ của hình chữ T rồi đưa mặt vừa cắt vạt trên cành ghép, áp sát vào phần gỗ của gốc ghép 2 - 3 tuần, nếu cành ghép còn sống thì cắt bỏ phần trên của gốc ghép.

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Kỹ thuật ký đá trên cây Sanh

Kỹ thuật ký đá trên cây Sanh


Đây là khâu quan trọng nhất nó đòi hỏi tính sáng tạo của người làm bởi mỗi viên đá một hình dáng mỗi cây giống một bộ rễ khác nhau(Tạm gọi phần lồi, nhô ra của đá là phần dương, phần hốc đá, chỗ lõm vào là âm) hãy chọn một phần nhô cao của viên đá và ốp cây vào, cố định thật chặt phần gốc cây vào đá bắng dây mềm đó là điểm nhấn gây ấn tượng nhất cho người xem (không nên nhét gốc cây vào hốc đá bởi khi lớn gốc cây ẩn vào trong không phô được vẻ đẹp của cây). Trên mỗi viên đá hãy phát hiện và lợi dụng những đường nét uốn lượn hết sức đa dạng của nó để cuốn rễ. Cây cảnh của bạn có gây được ấn tượng cho người xem hay không chính là điểm mấu chốt này.



1. Chuẩn bị cây giống, đá
- Cây giống: Việc chuẩn bị cây giống cực kỳ quan trọng nó quyết định tới 20 - 30% cho sự thành bại của tác phẩm. Cây giống phải có bộ rễ càng dài càng tốt. kinh nghiệm nhiều năm cho thấy cây có bộ rễ dài khoảng trở lên 1m, đường kính gốc khỏang 1,5 cm là đạt yêu cầu.



- Cách làm: có thể nhân giống từ hạt, cành chiết. Chọn cành có đường kính bằng điếu thuốc để chiết. Nếu muốn vào đá vào cuối năm hoặc mùa xuân thì phải chiết cành vào tháng 3 - 4 năm trước. Sau chiết ( 15 - 20 ngày ) cành ra rễ, cắt cành chiết cấy vào vỏ bao ximăng tháo chỉ 2 đầu nhồi đất dựng đứng, mỗi bao cấy 5 cây giống hoạc cấy vào ống nhựa, ống luồng bổ đôi cho đất vào trong… ta có thể sáng tạo ra nhiều kiểu làm cây giống miễn sao tạo bộ rễ dài.



- Đá: Những năm trước tôi hay dùng đá Tai bèo để ký cây bởi đá có nhiều hang hốc, mấu dễ dàng cho việc quấn rễ vào đá. Hiện tại tôi chuyển qua làm bằng đá trơ (Đá lũa ), đá bọt (loại đá có mầu vàng, nhẹ có nhiều ở Ninh Bình, Thanh Hóa ) và đá vôi loại to.



2. Kỹ thuật ký đá
- Thời gian: Thời gian phù hợp nhất cho việc ký đá từ tháng 11 âm năm trước đến hết tháng 3 âm lịch năm sau tất nhiên ta có thể ký các thời điểm khác trong năm nhưng vấn đề chăm sóc sẽ gặp nhiều khó khăn (áp dụng cho thời tiết Bắc Bộ).



- Kỹ thuật ký đá: đây là khâu quan trọng nhất nó đòi hỏi tính sáng tạo của người làm bởi mỗi viên đá một hình dáng, mỗi cây giống một bộ rễ khác nhau (Tạm gọi phần lồi, nhô ra của đá là phần dương, phần hốc đá, chỗ lõm vào là âm) hãy chọn một phần nhô cao của viên đá và ốp cây vào, cố định thật chặt phần gốc cây vào đá bắng dây mềm đó là điểm nhấn gây ấn tượng nhất cho người xem (không nên nhét gốc cây vào hốc đá bởi khi lớn gốc cây ẩn vào trong không phô được vẻ đẹp của cây). Trên mỗi viên đá hãy phát hiện và lợi dụng những đường nét uốn lượn hết sức đa dạng của nó để cuốn rễ. cây của bạn có gây được ấn tượng cho người xem hay không chính là điểm mấu chốt này.



- Sau khi tạo đường chạy cho rễ xong hãy buộc dây thật chặt (dùng loại dây hóa học mầu đen. Loại này rất phù hợp bởi rất bền, lâu mục ) nếu chưa quen có thể dùng phấn vẽ trước để điều chỉnh đường chạy của rễ cho phù hợp.



* Một số lưu ý:
- Để tạo ra cây dáng lạ, cây quái nên cuốn cây vào phần dương của đá, phải tạo nhiều đường gấp khúc đột ngột và không bị ràng buộc bởi một công thức nào, nếu ta bị lệ thuộc vào những thứ có sẵn hoạc theo đường mòn thì cây sẽ đơn điệu, tẻ nhạt.



- Nếu muốn cây có bộ rẽ dẹt hãy xếp nhiều rễ cạnh nhau chạy song song, khoảng cách các rễ tùy theo bạn định làm cây to hay nhỏ thông thường đặt chúng cách nhau khoảng 3 - 5cm.





Sau 2 năm





- Nếu bạn muốn lấy rễ làm thân thì cắt hết những rễ nhỏ chỉ để lại một hoặc hai rễ to xếp chúng cạnh nhau khi lớn chúng phình lên và dính vào nhau tạo thành một thân cây rất đẹp.



- Trong quá trình đưa cây vào đá để có đường chạy của rễ theo đúng ý có thể sẽ phải can thiệp bằng các dụng cụ cắt sửa đá.



- Căn cứ vào đường chạy của rễ hãy uốn thân cây cho ăn nhập với tổng thể rễ - thân - đá và cố định lại.



- Sau khi ký đá xong hãy đưa cây ra vườn nhào đất ướt vừa phải và đắp đến cổ rễ (để cây bằng mặt vườn, không đào hố đưa cây vào) sau đó lấy tấm ly nông cuộn chặt lại nhằm giữ độ ẩm khoảng một tuần ta mới phải tưới nước một lần. Sau cấy một tháng hãy tưới cho cây một chút phân đạm + lân (thật loãng ) để cây phát triển đâm rễ xuống đất.



* Một số lưu ý:
- Đất đắp bầu không được cho phân hữu cơ, không tưới phân hữu cơ vào bầu đất. Khi rễ đã xuống đất bạn hãy dùng các loại phân chăm sóc cho cây phát triển tốt, lúc này ngường hoàn toàn tưới phân cũng như nước trên bầu đất.



- Tùy theo sức chăm cũng như môi trường và điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khoảng 6 - 7 tháng gốc cây có thể đặt đường kính 2,5 - 3cm lúc này ta dỡ bỏ bầu đất và tiến hành chỉnh lại rễ. Những rễ không đạt yêu cầu cắt bỏ, đoạn rễ mới mọc thêm từ rễ cũ ta đào lên và tiến hành quấn lại vào đá.



- Trong một cây bạn phải để nguyên 1 - 2 chiếc rễ, những rễ này có nhiệm vụ nuôi cây khi rễ mới chưa phát triển, hãy chọn chúng trong số rễ bỏ đi. Khi rễ mới đủ sức nuôi cây thì cắt chúng đi.

Cách làm tăng màu cho dòng cá Huyết Long

Cách làm tăng màu cho dòng cá Huyết Long



Vì nhận được rất nhiều tin nhắn vào hộp thơ cá nhân của tôi về cách làm tăng màu của cá Rồng qua cách sử dụng thuốc kích thích làm tăng màu. Chúng tôi nhận thấy cách sử dụng thuốc kích thích cho cá Rồng không phải là biện pháp sử dụng lâu dài. Thay vào đó nên sử dụng tảo Spirulina mang lại kết quả tốt nhất nhưng lại rất khó áp dụng cho cá Rồng. Thay vào đó xin giới thiệu với các bạn cách dùng đèn để kích thích cá Rồng, đặc biệt là Huyết Long thì màu lên rất nhanh.





1. Các bước cần chuẩn bị cho cá Rồng
- Môi trường: Nên bỏ một ít nước lá Bàng vào hồ và bắt đầu tăng dần số giờ mở đèn cho cá Rồng theo từng bước sau: 3:6:9:12 và 24 giờ để cá Rồng làm quen dần với đèn, tránh một số cá có hiện tượng bị stress.



- Muối: Có thể cho một ít muối với hàm lượng 100g/100 lít nước, sẽ nhanh chóng làm tăng nhanh màu khi sử dụng đèn cho cá Rồng, đồng thời làm giảm stress cho cá.



- Rút bớt nước để dùng đèn kích thích hiệu quả hơn



2. Thời gian bắt đầu dùng đèn kích thích màu cho cá
- Kích thước cá Rồng: Không có kích thước nào hay độ tuổi nào là không thể dùng đèn kích thích màu, bất kì khi nào cá Rồng có biểu hiện lên màu, bằng cách quan sát Huyết Long.



- Loại đèn sử dụng để kích thích: Rất nhiều loại đèn bạn có thể dùng để kích thích lên màu của cá Rồng. Arcadia D3, PL lights, Dennerle plant tubes, T5HO, TFC, Flow Flux, NEC... Metal Halude. Nhưng sử dụng đèn cho cây thủy sinh loại ánh sáng trắng tím thì thích hợp nhất.



3. Kích thích lên màu và giữ cho màu giữ lâu
- Kích thích màu: Nếu bạn làm đúng qui trình thì màu sắc sẽ nhanh chóng thể hiện trên mang và vây cá và lan tỏa toàn thân. Sự nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào dải ánh sáng của loại đèn bạn sử dụng.



- Giữ màu cho Huyết Long: Sử dụng đèn để kích thích Huyết Long để tăng nhanh sản sinh chromatophores.. trong vây cá. Nền vây cá sẽ xậm hơn và tách bặt với màu sắc của viền vây. Dùng đèn kích thích cá lên màu không thể dừng giữa chừng, vì như thế màu sẽ nhanh chóng phai và quay lại như ban đầu. Nếu muốn ngừng dùng đèn kích thích thì bạn nên bắt đầu giảm dần cho đến khi ánh sáng dùng cho cá bắt đầu cân bằng với ánh sáng phòng, vì như thế màu sẽ giữ được lâu hơn và ổn định cho cá.



4. Những hiện tượng khi sử dụng đèn kích thích sai qui cách
- Cá bơi nghiêng: Khi bạn thấy cá của mình bắt đầu bơi nghiêng, bạn nên đặt đèn kích thích của đằng trước và đằng sau hồ, ánh sáng cân bằng sẽ giúp bơi lại bình thường.



- Mắt cá bị mờ: Hiện tựong này là do nước quá dơ, dẩn đến cá bị đục mắt. Bạn nên kiểm tra chất lượng nước thường xuyên.



- Bỏ ăn: Điều này thường xảy ra, khi ta dùng đèn với ánh sáng quá mạnh và ngay lập tức chiếu vào cá mà không theo qui trình từng bước. MỘt số cá ngay lập tức cảm thấy bị stress và bỏ ăn.



- Cá bị mù: Câu hỏi này rất thường hay gặp, nhưng theo tôi cá có một lớp màng đóng mở trong mắt cá. Do vậy sẽ không có vấn đề gì khi dùng đèn kích thích cho cá. Bạn không nên dùng quá nhiều đèn vì mong muốn kích thích cá mau lên màu.



5. Các chất bổ trợ
- Nước lá bàng hoặc black water: Sử dụng nước lá bằng có tanin acid sẽ tạo môi trường phù hợp với cá Rồng, giúp cá giảm stress và nhanh chóng phát triển màu.



- Vitamin S7: Là loại vitamin thường dùng cho cá Rồng, kích thích cá thèm ăn và cá Rồng cũng thường hay có hiện tượng bỏ ăn một thời gian hoặc ăn ít trong vài lần trong suốt quá trình phát triển của cá.



- Bong bóng hay các vện trên bề mặt nước thường đó là dấu hiệu nước dơ, bạn cần thay nước vài lần trong suốt quá trình dùng đèn kích thích cá nhanh lên màu.



- Muối ăn: Muối cũng giúp làm sạch ruôt cá và tạo một lớp mỏng trên bề mặt vây làm gia tăng khả năng chống lại cá bệnh kí sinh trùng. Do vậy rất cần thiết trong quá trình dùng đèn kích thích lên màu. Nhưng chỉ sử dụng lượng 100g/100 lít nước là tốt nhất.



6. Rút ngắn thời gian





- Lên màu chỉ trong 1 ngày: Điều này là không thể, thông thướng sẽ mất khoảng 3 - 4 tuần để cá bắt đầu lên màu, vì nếu như dưới lớp vây cá đã có sẵn một lượng chromataphores. Với ánh sáng thích hợp sẽ giúp các chất này nhanh chóng chuyển hóa và làm tăng màu ở cá Rồng.



- Cũng có nhiều trường hợp bạn sẽ thấy dùng đèn kích thích cả tháng, nhưng vẫn không mang lại hiểu quả nào cho cá Rồng thì khi đó có thể cường độ ánh sáng, loại sóng ánh sáng bạn sử dụng chưa hợp lý.



- Vì sao cá đỏ hơn khi dùng đèn kích thích: như bạn thất dùng ánh sáng giúp cho chất melaniphires (black pigments) trên vẩy được tiếp xúc với anh sáng, do vậy các vây sẽ xậm hơn, đỏ nhạt thì sẽ đỏ đậm hơn, xanh thì xanh xậm hơn, cũng như các bạn tắm nắng vậy. Nhưng bạn phải thực hiện việc này cho đúng với thời lượng.



- Nhiều đèn kích thích hơn có nhanh lên màu hơn: Rất nhiều người nghĩ rằng sử dụng càng nhiều đèn thì sẽ nhanh chóng kích thích màu cá phát triển hơn. Điều này sẽ làm cho cá nhanh bị stress hơn và sẽ giật nhảy lung tung và cuối củng thì làm cho qui trình lên màu chậm lại… Cũng gần giống với khi bạn tập thể hình, nâng tạ nặng hơn không chắc rằng cơ bắp của bạn phát triển khỏe mạnh hơn.



7. Nước và những mối liên hệ với cá Rồng
- Nước tốt: nước được xem là tốt khi: mặt nước không được tích các bong bóng và các váng mỡ, nước không có những gợn hay những vụn thức ăn lơ lửng… các yếu tố về môi trường, lý – hóa nằm trong giới hạn cho phép nên định kỳ kiểm tra.



- Sự lưu thông tuần hoàn của nước - hãy tìm ra những vùng nước không lưu thông tới được hay nước quá tĩnh đều không tốt cho cá Rồng, tuy nhiên nước thổi phù phù trên bề mặt cũng không phù hợp với cá.



- Bộ lọc: Hãy sử dụng bộ lọc vi sinh thật tốt, điều này sẽ giúp cho bạn rất nhiều trong suốt quá trình dùng đèn kích thích cá Rồng lên màu, thay nước quá nhiều sẽ làm chậm tiến trình lên màu ở cá. Do vậy bộ lọc tốt là rất cần thiết. huyết long rất cần sự ổn định về nước.



8. Về ánh sáng
- Màu ấm áp: Nếu bạn muốn bắt trước ánh sáng mặt trời cho cá Rồng thì thực ra cá Rồng không phù hợp với loại ánh sáng như vậy. Một vài chú cá Rồng con khi được kích thích dưới ánh nắng mặt trời rất nhanh bị bệnh và có thể dẫn đến chết. Do vậy Rồng con chỉ nên dùng đèn kích thích lên màu.



- Ánh sáng mặt trời thì với đèn chỉ khoảng 6.000 - 7.000 Kelvin là đã đủ nhái lại ánh sáng đó. Nhưng như thế thì màu sẽ lên rất chậm, do đó nên sử dụng đèn có độ Kelvin > 10.000K, đèn cho hồ thủy sinh rất thích hợp



- Thời gian dùng đèn: Thường thì trong khoảng 3 - 4 tuần mở đèn 24/24 và không thích khoảng thời gian bạn tập cho cá Rồng làm quen với việc mở đèn liên tục. Mục tiêu của kích thích là làm gia tăng lượng hormone phát triển màu ở cá.



- Cách dùng đèn kích thích: bạn nên máng đèn bên hông hồ cách mặt nước từ 5 - 10 cm, hoặc để nơi cá Rồng của bạn thường hay bơi qua lại nhiều nhất.



- Sau khi kích thích khoảng 3 - 4 tuần, đỏ huyết. Sau khi kích thích khoảng 3 - 4 tuần, đỏ ớt, nhưng có thể kích thích nhiều lần nữa khi cá lớn hơn một chút để cá chuyển sang đỏ huyết.



9. Bắt đầu ngừng khi
- Nếu bạn thấy cá có hiện tượng stress, hãy dừng lại và bắt đầu lại từ đầu và xem mình đã thiếu xót công đoạn nào.



- Khi bắt đầu cá đã lên màu đậm và màu như bạn mong muốn, bạn hãy bước tới bước kế tiếp đó là giảm bớt lượng ánh sáng từ từ cho cá quen dần và giũ màu được lâu hơn. Bạn cũng có thể dùng công tắc xoay để giảm dần lượng ánh sáng.